• Giá Heo thịt hơi (Miền Bắc) từ 88.000 - 91.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi CP 81.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Trung) từ 84.000 – 88.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Tây) 85.000 - 88.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Đông) 85.000 - 87.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Bắc) 40.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt (Miền Trung) 32.000-34.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Đông) 33.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Tây) 34.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Bắc) 85.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Trung) 80.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Nam) 85.000 đ/kg
    •  
  • Chăn nuôi lợn đảm bảo an toàn thực phẩm tại Việt Nam

    Chăn nuôi lợn theo quy trình VietGAHP

     

    Thực hành chăn nuôi tốt (GAHP) trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi lợn nói riêng đang được người chăn nuôi áp dụng rộng rãi nhằm tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn. Xu hướng chăn nuôi lợn áp dụng VietGHAP đã và đang tăng lên trong những năm gần đây.

    Trang trại chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP

     

    Bảng 10. Số lượng trang trại chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (trang trại)

    174

    262

    282

    Tỷ lệ so tổng số trang trại chăn nuôi lợn cả nước (%)

    1,5

    2,6

    2,9

    Tổng đầu con (con)

    652.849

    1.029.298

    1.108.756

    Tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước (%)

    1,9

    3,4

    3,9

     

    Năm 2016, cả nước có 174 trang trại chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP chiếm tỷ lệ 1,5 % số trang trại chăn nuôi lợn với tổng đầu con là 652.849 con chiếm tỷ lệ 1,9% tổng đàn lợn của cả nước;

     

    Năm 2017, số trang trại chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP tăng lên 262 trang trại, chiếm tỷ lệ 2,6 % và tổng đầu con là 1.029.298 con chiếm tỷ lệ 3,4%.  

     

    Năm 2018, số trang trại chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP của cả nước tăng lên 282 trang trại, chiếm tỷ lệ 2,9 % số trang trại với tổng đầu con là 1.108.756 con chiếm tỷ lệ 3,9%.

     

    Như vậy số lượng trang trại chăn nuôi lợn và tổng đầu con lợn được áp dụng chăn nuôi VietGAHP cũng như tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước tăng dần từ 2016 đến năm 2018.

     

    Hộ chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP

     

    Bảng 11. Số lượng hộ chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (hộ)

    18.160

    22.702

    22.703

    Tỷ lệ so với tổng số hộ chăn nuôi lợn  (%)

    0,6

    0,8

    0,9

    Tổng đầu con (con)

    290.532

    384.262

    377.782

    Tỷ lệ so tổng đàn lợn (%)

    0,9

    1,3

    1,3

     

    Năm 2016, cả nước có 18.160 hộ chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP chiếm tỷ lệ 0,6 %, tổng đầu con là 290.532 con chiếm tỷ lệ 0,9% tổng đàn lợn của cả nước;

     

    Năm 2017, số hộ chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP tăng lên 22.702 hộ, chiếm tỷ lệ 0,8 % với tổng đầu con là 384.262 con chiếm tỷ lệ 1,3% .  

     

    Năm 2018, số hộ chăn nuôi lợn áp dụng VietGAHP ổn định với 22.703 hộ, chiếm tỷ lệ 0,9 % số hộ chăn nuôi lợn của cả nước với tổng đầu con là 377.782 con, chiếm tỷ lệ 1,3% tổng đàn.

     

    Như vậy tổng đầu con lợn trong các hộ chăn nuôi áp dụng VietGAHP cũng như tỷ lệ về số đầu con so với tổng đàn lợn cả nước của năm 2017 và năm 2018 đều cao hơn năm 2016. Xu hướng số lượng hộ chăn nuôi lợn và tổng đầu con lợn của các hộ chăn nuôi theo VietGAHP ngày tăng theo từng năm.

     

    Chăn nuôi lợn An toàn sinh học (ATSH)

     

    Trang trại chăn nuôi lợn ATSH

     

    Chăn nuôi lợn An toàn sinh học đóng vai trò rất quan trọng, mang tính bền vững đặc biệt trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi diễn biến rất phức tạp trong phạm vi cả nước, đối với những cơ sở chăn nuôi làm tốt công tác ATSH cơ bản giữ được an toàn dịch bênh đối với bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

     

    Bảng 12. Số lượng trang trại chăn nuôi lợn ATSH và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (trang trại)

    2.147

    2.483

    2.502

    Tỷ lệ so tổng số trang trại chăn nuôi lợn cả nước (%)

    18,3

    24,4

    25,6

    Tổng đầu con (con)

    2.105.707

    2.797.925

    2.821.378

    Tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước (%)

    6,6

    9,3

    9,9

     

    Năm 2016, cả nước có 2.147 trang trại chăn nuôi lợn ATSH chiếm tỷ lệ 18,3 %, tổng đầu con là 2.105.707 con, chiếm tỷ lệ 6,6%; năm 2017, số trang trại chăn nuôi lợn ATSH của cả nước tăng lên 2.483 trang trại (tăng 15,6% so với năm 2016) và chiếm tỷ lệ 24,4 % với tổng đầu con là 2.797.925 con chiếm tỷ lệ 9,3%.

     

    Năm 2018, số trang trại chăn nuôi lợn ATSH tăng lên 2.502 trang trại (tăng 0,8% so với năm 2017) và chiếm tỷ lệ 25,6 % số trang trại chăn nuôi lợn của cả nước với tổng đầu con là 2.821.378 con chiếm tỷ lệ 9,9%. Xu hướng số lượng trang trại chăn nuôi lợn và tổng đầu con lợn cũng như tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước được áp dụng chăn nuôi ATSH ngày càng tăng so với các năm trước.

     

    Hộ chăn nuôi lợn ATSH

     

    Năm 2016, cả nước có 28.886 hộ chăn nuôi lợn ATSH chiếm tỷ lệ 10,0 % số hộ chăn nuôi lợn của cả nước với tổng đầu con là 274.787 con chiếm tỷ lệ 0,9% tổng đàn lợn của cả nước;

     

    Năm 2017, số hộ chăn nuôi lợn ATSH giảm xuống còn 27.710 hộ, chiếm tỷ lệ 10,0 % số hộ chăn nuôi lợn với tổng đầu con là 276.250 con chiếm tỷ lệ 0,9%.

     

    Bảng 13. Số lượng hộ chăn nuôi lợn ATSH và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (hộ)

    28.886

    27.710

    27.991

    Tỷ lệ so tổng số hộ chăn nuôi lợn cả nước (%)

    10,0

    10,1

    11,1

    Tổng đầu con (con)

    274.787

    276.250

    273.770

    Tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước (%)

    0,9

    0,9

    10,0

     

    Năm 2018, số hộ chăn nuôi lợn ATSH của cả nước tăng với 27.991 hộ, chiếm tỷ lệ 11,1 % số hộ chăn nuôi lợn của cả nước với tổng đầu con là 373.770 con chiếm tỷ lệ 10,0%.  

     

    Số lượng hộ chăn nuôi lợn ATSH và tổng số đầu con năm 2017 và năm 2018 giảm so với năm 2016, tuy nhiên tỷ lệ hộ chăn nuôi và tỷ lệ tổng đàn lợn ổn định và có biểu hiện tăng nhẹ. Điều này phù hợp với xu thế là số lượng hộ chăn nuôi ngày càng thu hẹp và quy mô chăn nuôi ngày càng tăng lên.

     

    Chăn nuôi lợn ATDB

     

    Trang trại chăn nuôi lợn ATDB

     

    Bảng 14. Số lượng trang trại chăn nuôi lợn ATDB và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (trang trại)

    531

    649

    683

    Tỷ lệ  so tổng số trang trại chăn nuôi lợn cả nước (%)

    4,5

    6,4

    7,0

    Tổng đầu con (con)

    559.615

    826.282

    1.081.918

    Tỷ lệ  so tổng đàn lợn cả nước (%)

    1,7

    2,8

    3,8

     

    Năm 2016, cả nước có 531 trang trại chăn nuôi lợn ATDB, chiếm tỷ lệ 4,5% và tổng số đầu con là 559.615 con chiếm tỷ lệ 1,7%; năm 2017, số trang trại chăn nuôi lợn ATDB tăng lên 649 trang trại (tăng 22,2% so với năm 2016) và chiếm tỷ lệ 6,4 % với tổng đầu con là 826.282 con chiếm tỷ lệ 2,8% tổng đàn lợn của cả nước.

     

    Năm 2018, số trang trại chăn nuôi lợn ATDB tăng lên 683 trang trại (tăng 5,2% so với năm 2017) và chiếm tỷ lệ 7,0% với tổng đầu con là 1.081.918 con chiếm tỷ lệ 3,8% tổng đàn lợn của cả nước. Xu hướng số lượng trang trại chăn nuôi lợn và tổng đầu con lợn cũng như tỷ lệ so với tổng đàn lợn cả nước được áp dụng chăn nuôi ATDB ngày càng tăng so với các năm trước.

     

    Hộ chăn nuôi lợn ATDB

     

    Bảng 15. Số lượng hộ chăn nuôi lợn ATDB và tổng đầu con

    Chỉ tiêu

    2016

    2017

    2018

    Số lượng (hộ)

    1.707

    1.741

    1.742

    Tỷ lệ so tổng số hộ chăn nuôi lợn cả nước (%)

    0,06

    0,06

    0,07

    Tổng đầu con (con)

    12.795

    17.622

    25.240

    Tỷ lệ so tổng đàn lợn cả nước (%)

    0,04

    0,06

    0,09

     

    Năm 2016, cả nước có 1.707 hộ chăn nuôi lợn ATDB chiếm tỷ lệ 0,06 % về số hộ và tổng đầu con là 12.795 con chiếm tỷ lệ 0,04% về tổng số con (Bảng 15); năm 2017, số hộ chăn nuôi lợn ATDB của cả nước tăng lên 1.741 hộ, chiếm tỷ lệ 0,06 % với tổng đầu con là 17.622 con chiếm tỷ lệ 0,06% tổng đàn lợn của cả nước.

     

    Năm 2018, cả nước có 1.742 hộ chăn nuôi lợn ATDB chiếm tỷ lệ 0,07 % về số hộ với tổng đầu con là 25.240 con chiếm tỷ lệ 0,09% về đầu con của cả nước. Xu hướng tỷ lệ hộ chăn nuôi lợn ATDB so với tổng hộ chăn nuôi lợn cũng như tỷ lệ lợn được nuôi ATDB so tổng đàn lợn cả nước ngày càng được tăng so với các năm trước.

     

    Cục Chăn nuôi

    Để lại comment của bạn

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.