• Giá Heo thịt hơi (Miền Bắc) từ 88.000 - 91.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi CP 81.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Trung) từ 84.000 – 88.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Tây) 85.000 - 88.000 đ/kg
    • Giá Heo thịt hơi (Miền Đông) 85.000 - 87.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Bắc) 40.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt (Miền Trung) 32.000-34.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Đông) 33.000 đ/kg
    • Giá Gà thịt lông màu (Miền Tây) 34.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Bắc) 85.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Trung) 80.000 đ/kg
    • Bò thịt hơi (Miền Nam) 85.000 đ/kg
    •  
  • Đất hiếm giúp cải thiện năng suất vật nuôi

    Khái niệm

     

    Đất hiếm bao gồm các nguyên tố scandium (Sc-21), yttrium (Y-39), và lanthanides – lanthanum (La-57), cerium (Ce-58), praseodymium (Pr-59), neodymium (Nd-60), promethium (Pm-61), samarium (Sm-62), europium (Eu-63), gadolinium (Gd-64), terbium (Tb-65), dysprosium (Dy-66), holmium (Ho-67), erbium (Er-68), thulium (Tm-69), ytterbium (Yb-70), and lutetium (Lu-71).

     

    Trong tự nhiên, đất hiếm có nhiều trong khoáng chất như bastnaesite và monazite. Đất hiếm chủ yếu được dùng trong công nghệ hiện đại từ điện thoại di động, bóng đèn huỳnh quang, máy tính, ti vi, thiết bị văn phòng và gia dụng, thiết bị y tế, xe hybrid, tua bin gió, kỹ thuật hạt nhân, thiết bị quân sự và thậm chí trong tàu vũ trụ. Hơn nữa, đất hiếm còn được sử dụng để điều trị chứng tăng phosphate huyết ở bệnh nhân suy thận mạn tính và điều trị bỏng…

     

    Tương lai, trong số các ứng dụng khác, đất hiếm có thể tham gia vào liệu pháp điều trị ung thư, điều trị và phòng ngừa loãng xương và xơ vữa động mạch cũng như ghép tạng.

     

    Trung Quốc hiện là nhà sản xuất và tiêu thụ nguyên tố đất hiếm lớn nhất thế giới. Đầu năm 2010 Trung Quốc chiếm hơn 95% sản lượng đất hiếm của thế giới mặc dù chỉ có hơn 1/3 các mỏ khoáng sản đất hiếm được biết đến trên thế giới. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã hạn chế xuất khẩu đất hiếm để đảm bảo nguồn cung cho sản xuất trong nước, vì vậy giá đất hiếm có lúc biến động mạnh về giá.

     

     

    Đất hiếm được sử dụng trong chăn nuôi

     

    Kháng sinh từng được sử dụng như là chất kích thích tăng trưởng và phòng bệnh cho vật nuôi ở nhiều nước trên thế giới trong gần nửa thế kỷ. Từ khi lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi được ban hành ở Châu Âu, các chất thay thế kháng sinh được đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển, bao gồm đất hiếm. Một số nghiên cứu rất sớm ở Đức và Thụy Sĩ năm 1999 chỉ ra rằng bổ sung đất hiếm vào thức ăn có thể làm tăng khối lượng cơ thể và cải thiện đáng kể hệ số chuyển hóa thức ăn ở vật nuôi.

     

    Ngành phụ gia thức ăn chăn nuôi thường sử dụng các loại đất hiếm nhẹ (La, Ce, Pr, Nd) ở cả dạng vô cơ (nitrat, clorua…) và hữu cơ (ascorbates, citrate…), ở đó sản phẩm hữu cơ được đánh giá tốt hơn.

     

    Đi đầu trong nghiên cứu đất hiếm trong lĩnh vực chăn nuôi là các nhà khoa học thuộc ĐH Munich, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp tại Brunswick, ĐH Berlin, ETH Zurich,…

     

    Ở heo, đất hiếm có thể cải thiện khối lượng cơ thể và chuyển đổi thức ăn đối với giống chất lượng cao được nuôi trong điều kiện tối ưu về chuồng trại và chế độ dinh dưỡng. Cụ thể là cải thiện 2-5% tăng khối lượng và 7% FCR ở lợn con (Rambeck & cs, 1999), cũng như cải thiện 12-19% khối lượng và 3-11% FCR ở heo giai đoạn vỗ béo (He & Rambeck, 2000; Rambeck & cs, 1999, He & cs, 2001; Borger, 2003). Ngoài ra, heo cho ăn đất hiếm sẽ tăng 8,8% khối lượng cơ thể sống, rút ngắn thời gian xuất chuồng 9 ngày (Kessler, 2004), cũng như giảm đáng kể FCR 7-9% trong giai đoạn 8-40 kg (Prause & cs, 2004) hoặc và tăng khối lượng 3,7-25% ở giai đoạn 8-30kg (Knebel, 2004). Tác dụng của đất hiếm không chỉ thể hiện ở qui mô thử nghiệm mà còn được khảo nghiệm ở qui mô đại trà.

     

    Ở gà, đất hiếm có thể cải thiện 16-18% khối lượng cơ thể (Rosewell, 1995), tăng năng suất trứng khoảng 8% (Shen & cs, 1991), giảm 48% FCR (Guo & cs, 1993), tăng tỷ lệ sống 3-4% (Xiong, 1995). Ngoài ra, đất hiếm cũng đã được chứng minh hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản (cải thiện đáng thể sản lượng và tỷ lệ sống của cá và tỷ lệ nở của trứng tôm).

     

    Đất hiếm cũng đã được chứng minh không chỉ cải thiện một số tính trạng kinh tế ở vật nuôi mà còn được chứng minh về độ an toàn cho sức khỏe động vật trước khi được thương mại hóa ở các nước Châu Âu và Mỹ (Rambeck & cs, 1999; He & cs, 2001; Schuller & cs, 2002; Eisele, 2003; Knebel, 2004; Fleckenstein & cs, 2004; Miller, 2006; Meyer & cs, 2006; Durbin & cs, 1956; Ji & cs,1985; Evans, 1990; FairweatherTait & Dainty, 2002; Fiddler & cs., 2003).

     

    Thực vậy, không có sự khác biệt về hàm lượng lantan giữa các phần thịt của heo được nuôi bổ sung lantan với heo đối chứng (Wang & Xu, 2003). Hơn nữa, chất lượng thịt gà nuôi bổ sung đất hiếm cũng được bảo toàn, vì không có sự tích lũy đáng kể của đất hiếm trong cơ hoặc gan gà thịt (Xie & Wang, 1998).

     

    Nhìn chung, các nguyên tố đất hiếm được xem là các chất có tính độc hại rất thấp (Haley, 1979) và không nguy hiểm đối với sức khỏe con người thông qua các sản phẩm động vật. Vì vậy đất hiếm có thể xem như là nguồn tài nguyên giúp cải thiện năng suất và FCR ở vật nuôi trong điều kiện kháng sinh không được khuyến khích sử dụng.

     

    PGS TS Đỗ Võ Anh Khoa, TS Cao Đình Thanh

    (Hội Chăn nuôi Việt Nam)

    TS Phan Thị Hồng Phúc, TS Trần Thị Hoan

    (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên)

    Tình hình nghiên cứu đất hiếm ở Việt Nam

    Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên đất hiếm lớn, nhưng chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả trong công nghiệp và nông nghiệp. Gần đây, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng đất hiếm. VD: Bổ sung đất hiếm làm tăng 10% khối lượng ở gà thịt và dự kiến sẽ có nhiều khảo nghiệm trên các đối tượng vật nuôi khác nhau trong thời gian tới nhằm tăng năng suất và cải thiện hiệu quả chăn nuôi.

    Để lại comment của bạn

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.