• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Tuyên Quang từ 33.000 - 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lạng Sơn từ 34.500 - 35.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Móng Cái từ 34.000 - 35.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cao Bằng từ 35.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 31.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lak từ 32.000 - 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 27.000 - 33.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi TP. HCM từ 30.000 - 33.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai khoảng 31.000 đ/kg
  • Khẩu phần thức ăn hàng ngày cho bò sữa

    Bò sữa có trọng lượng lớn, cho sữa nhiều thì nhu cầu dinh dưỡng nhiều hơn so với bò sữa có khối lượng nhỏ, cho sữa ít hoặc không cho sữa. Khẩu phần thức ăn (KPTA) hợp lý và khoa học mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bò sữa là khẩu phần thức ăn đảm bảo những yêu cầu sau:

     

    + Duy trì sự sống bình thường: Cứ 100 kg thể trọng cần 1 đơn vị thức ăn (ĐVTĂ). Mỗi loại nguyên liệu thức ăn đều có giá trị dinh dưỡng khác nhau, qui ra ĐVTĂ khác nhau. Ví dụ: 1 kg cám loại 1 là 1 đơn vị, 1 kg cỏ voi tươi là 0,13 đơn vị… Nhu cầu dinh dưỡng của bò rất phong phú và đa dạng bao gồm các chất bột đường, đạm, khoáng, sinh tố. Ngoài ra, mỗi loại nguyên liệu đều có độ cồng kềnh, thể tích to nhỏ, tính ngon miệng khác nhau… cho nên cần phối hợp nhiều loại nguyên liệu thức ăn khác nhau để cân đối đầy đủ giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn cho bò.

     

    + Sinh trưởng, phát triển và mang thai: Cần 0,5 ĐVTĂ.

     

    + Sản xuất (sản xuất sữa): Để sản xuất 1 lít sữa cần 0,5 ĐVTĂ từ lít sữa thứ 6 trở đi, mỗi lít sữa tăng lên cần bổ sung 0,5 kg TĂHH.

    Khẩu phần thức ăn hàng ngày cho bò sữa

    Trong mỗi ĐVTĂ cần 60 gr protein thô, trong toàn bộ KPTĂ hàng ngày cần 50-60 gr can xi. 30-40 gr phốt pho, 10-20 gr muối. Nên để sẵn hỗn hợp khoáng có tỷ lệ Ca/p= 2/1, như đá liếm cho bò ăn tự do. Trong tổng số ĐVTĂ hàng ngày nên cân đối 40-50% TĂHH (khoảng 1 – 1,5% trọng lượng cơ thể) và 50- 60% thức ăn thô xanh khác. (khoảng 10% trọng lượng cơ thể).

     

    Lượng cám hỗn hợp cho bò sữa trong một ngày đêm phụ thuộc vào sản lượng sữa và chất lượng cỏ xanh, các loại thức ăn thô và phụ phế phẩm khác trong khẩu phần.

     

    Khi có đủ cỏ xanh chất lượng tốt thì lượng thức ăn tinh hỗn hợp cho mỗi bò sữa là: 0,5 kg cho 1 lít sữa, tính từ lít sữa thứ 6 trở đi. Ví dụ: Bò cho 15 lít sữa/ngày cần: (15-5) x 0,5 kg = 5 kg cám hỗn hợp.

     

    Khi không có đủ cỏ xanh, hoặc cỏ xanh chất lượng kém thì lượng thức ăn tinh hỗn hợp cho mỗi bò sữa phải cao hơn (có thể tính bình quân 0,4 kg cám hỗn hợp cho 1 lít sữa được sản xuất ra). Ví dụ: Bò cho 15 lít sữa/ngày cần: 15 x 0,4 kg = 6 kg cám hỗn hợp.

     

    Thức ăn nên chia làm nhiều lần/ngày cho bò ăn, tối thiểu cũng phải 2-3 lần/ngày.

     

    Nếu KPTĂ tinh quá cao thì chi phí thức ăn cao, sản lượng sữa có thể có tăng nhưng chất lượng sữa giảm (sữa bị chua, tỷ lệ bơ trong sữa thấp dưới 3%). Bò  dễ bị rối loạn tiêu hóa, bệnh axít dạ cỏ làm giảm khả năng tiêu hoá chất xơ. Nguy hiểm hơn axít vào máu gây nên nhiều bệnh sản khoa, sinh đẻ khó khăn, bại liệt trước và sau khi sinh, yếu chân, hư móng, sứt móng… Nếu KPTĂ thô xanh quá cao thì không bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng…

     

    Một khẩu phần ăn chỉ đảm bảo tiêu chuẩn ăn (cân đối dinh dưỡng) chưa đủ. Cần phải quan tâm đến tính ngon miệng, khả năng bò sữa ăn hết khẩu phần, dạng vật lý (thể tích, kích cỡ thức ăn) của khẩu phần, tỷ lệ thức ăn tinh thô, giá nguyên liệu của khẩu phần… Khẩu phần thức ăn hợp lí và khoa học là khẩu phần thoả mãn các yêu cầu trên.

     

    Cho bò sữa ăn khẩu phần thức ăn hợp lí và khoa học sẽ phát huy được phẩm chất giống, tăng năng suất và chất lượng sữa, giảm bệnh tật, khai thác sữa lâu dài, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Để đạt được điều đó người chăn nuôi phải biết những nhu cầu dinh dưỡng cơ bản, nguyên tắc xây dựng khẩu phần, chế độ dinh dưỡng, những kinh nghiệm sử dụng nguyên liệu thức ăn.

     

    KS. Đặng Tịnh

    Báo nông nghiệp số 106 ngày 14/6/2002

    Để lại comment của bạn

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.

    • Công ty Thực phẩm Thái Bình, một đơn vị thuộc Công ty cổ phần ĐTK Việt Nam

    • Hiện nay ở Việt Nam, nghề nuôi thỏ bắt đầu phát triển mạnh, nên nhu cầu về con giống cũng tăng cao.

    • Nuôi nhím cảnh không còn là nghề mới lạ ở Việt Nam nhưng nó vẫn giúp nhiều hộ chăn nuôi kiếm tiền triệu mỗi tháng

    • Hiện nay, thịt lợn hữu cơ đang là xu hướng mới của người tiêu dùng Việt Nam

    • Thịt đà điểu được coi là "thịt sạch của thế kỷ 21"

    • Những loài gia cầm, thủy cầm đặc sản có đặc điểm là ngoại hình có những nét rất đặc biệt, thịt của các loài này có chất lượng và mùi vị ngon hơn những giống loài khác.

    • Ở Việt Nam, gà Lôi đã được nuôi từ rất lâu nhưng những hiểu biết và đầu tư cho chăn nuôi gà Lôi ở nước ta chủ yếu theo lối chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chưa cao.

    • Gà Quý Phi là giống gà quý, rất thích hợp với khí hậu Việt Nam, được nuôi để lấy thịt, vừa có thể làm cảnh...