• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 42.000 - 47.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 46.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Dương 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Nam Định từ 45.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quốc Oai 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 48.000 – 50.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Định 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lak 49.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Tĩnh 48.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tân Uyên (Bình Dương) 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Gia Kiệm (Đồng Nai) từ 51.000 – 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trảng Bom (Đồng Nai), Trà Vinh 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long 51.000 đ/kg
    •  
  • Kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL Việt Nam 9 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 9/2018 đạt 386 triệu USD, tăng 27,93% so với tháng trước đó và tăng 51,71% so với cùng tháng năm ngoái.

    Kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL Việt Nam 9 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh

    Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2018 là Argentina, Brazil, Mỹ, Trung Quốc,… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 148 triệu USD, tăng 222,64% so với tháng trước đó và tăng 25,69% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 9 tháng đầu năm 2018 lên gần 900 triệu USD, chiếm 30,9% thị phần.

     

    Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 61 triệu USD, tăng 97,9% so với tháng 8/2018 và tăng 130,9% so với cùng tháng năm trước. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 388 triệu USD, tăng 272,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Đứng thứ ba là Mỹ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 61 triệu USD, giảm 14,2% so với tháng trước đó nhưng tăng mạnh 903,7% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi gần 2,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 17,08% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Brazil với 388 triệu USD, tăng 272,43% so với cùng kỳ, Mỹ với 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ, Chile với hơn 20 triệu USD, tăng 152,97% so với cùng kỳ, sau cùng là Bỉ với hơn 21 triệu USD, tăng 121,64% so với cùng kỳ.

     

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN & NL 9 tháng đầu năm 2018

     

    ĐVT: nghìn USD

    Thị trường

    9T/2017

    T9/2018

    +/- So với T8/2018 (%)

    9T/2018

    +/- So với 9T/2017 (%)

    Tổng KN

    2.474.850

    386.516

    27,9

    2.897.476

    17,1

    Argentina

    1.193.806

    148.432

    222,6

    894.518

    -25,1

    Ấn Độ

    102.946

    13.238

    12,1

    139.871

    35,9

    Anh

    1.337

    61

    -74,3

    1.031

    -22,9

    Áo

    47.216

    607

    576,6

    4.875

    -89,7

    Bỉ

    9.712

    699

    -7,4

    21.527

    121,6

    Brazil

    104.244

    61.957

    97,9

    388.235

    272,4

    UAE

    56.272

    4.117

    9,4

    49.724

    -11,6

    Canada

    55.419

    2.327

    53,0

    15.731

    -71,6

    Chile

    8.116

    3.519

    -50,2

    20.533

    153

    Đài Loan

    61.999

    8.251

    -6,3

    70.697

    14,0

    Đức

    5.915

    1.317

    104,2

    7.604

    28,6

    Hà Lan

    15.278

    2.685

    7,3

    17.089

    11,9

    Hàn Quốc

    27.165

    3.952

    -1,9

    36.923

    35,9

    Mỹ

    187.091

    61.220

    -14,2

    502.251

    168,5

    Indonesia

    79.025

    6.614

    -23,2

    69.901

    -11,6

    Italia

    54.291

    4.645

    0,5

    37.925

    -30,1

    Malaysia

    21.226

    2.095

    -31,4

    27.899

    31,4

    Mexico

    1.755

    140

    -61,2

    3.143

    79,1

    Nhật Bản

    3.565

    345

    32,4

    2.955

    -17,1

    Australia

    8.432

    1.155

    -33,2

    11.474

    36,1

    Pháp

    19.415

    2.107

    -17,9

    25.057

    29,1

    Philippin

    13.658

    608

    -75,5

    11.332

    -17,0

    Singapore

    11.340

    1.566

    -16,8

    12.733

    12,3

    Tây Ban Nha

    8.160

    2.425

    4,7

    12.036

    47,5

    Thái Lan

    57.909

    5.147

    -58,4

    79.754

    37,7

    Trung Quốc

    115.765

    14.900

    -39,3

    173.433

    49,8

    (Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

     

    Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

     

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 9 tháng đầu năm 2018

    Mặt hàng

     

    9T/2017

    9T/2018

    So với cùng kỳ

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (%)

    Trị giá (%)

    Lúa mì

    3.693

    777.916

    3.988

    955.420

    8

    22,8

    Ngô

    5.605

    1.104.896

    7.281

    1.504.148

    29,9

    36,1

    Đậu tương

    1.279

    550.332

    1.325

    574.704

    3,6

    4,4

    Dầu mỡ động thực vật

     

    542.881

     

    547.446

     

    0,8

    (Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

     

    Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2018 đạt 305 nghìn tấn với kim ngạch đạt 75 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2018 lên gần 4 triệu tấn, với trị giá 955  triệu USD, tăng 8% về khối lượng và tăng 22,82% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2018 là Nga chiếm 53% thị phần; Australia chiếm 25%, Canada chiếm 8%, Mỹ chiếm 4% và Brazil chiếm 2%.

     

    Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 9 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 13 lần và về trị giá tăng hơn 15 lần. Tương tự, Mỹ tăng lần lượt hơn 12 lần và 11 lần.

     

    Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt 185 nghìn tấn với giá trị hơn 76 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,3 triệu tấn và 574 triệu USD, tăng 3,55% về khối lượng và tăng 4,43% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 1,2 triệu  tấn với trị giá đạt 259 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2018 lên  hơn 7,26 triệu tấn và hơn 1,5 tỉ USD, tăng 29,9% về khối lượng và tăng 36,13% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 48% và 14% thị phần. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Vũ Lanh

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  •