• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 47.000 - 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên từ 53.000 - 53.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hải Dương 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Giang 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Tuyên Quang từ 52.000 - 52.500đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Phú Thọ, Vĩnh Phúc 51.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Trung Bộ từ 48.000 – 52.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trung và Nam Trung Bộ từ 47.000 – 49.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam 47.000 - 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bà Rịa Vũng Tàu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long An 49.000 – 50.000 đồng/kg
    •  
  • Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu của Việt Nam 9 tháng năm 2017 giảm nhẹ

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 9/2017 đạt 254 triệu USD, tăng 8,91% so với tháng trước đó nhưng giảm 10,82% so với cùng tháng năm ngoái.

     

    Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã chi hơn 2,4 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, giảm 2,37% so với cùng kỳ năm trước đó.

    Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu của Việt Nam 9 tháng năm 2017 giảm nhẹ

    Trong 9 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Italia với hơn 54 triệu USD, tăng 864,12% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Canada với hơn 55 triệu USD, tăng 530,52% so với cùng kỳ; Chilê với hơn 8 triệu USD, tăng 88,41% so với cùng kỳ, sau cùng là Ấn Độ với hơn 102 triệu USD, tăng 81,56% so với cùng kỳ.

     

    Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 9/2017 là Achentina, Brazil, Trung Quốc, Canada… Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 116 triệu USD, giảm 10,13% so với tháng trước đó nhưng tăng 2,89% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này trong 9 tháng đầu năm 2017 lên gần 1,2 tỉ USD, chiếm 48,1% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước đó – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt hơn 26 triệu USD, tăng 577,4% so với tháng 8/2017 nhưng giảm 3,4% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này đạt hơn 104 triệu USD, giảm 14,79% so với cùng kỳ năm trước đó.

     

    Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng trong 9 tháng đầu năm 2017, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.

     

    Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 9/2017 là Trung Quốc với trị giá hơn 15 triệu USD, tăng 29,92% so với tháng trước đó nhưng giảm 18,69% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2017 lên hơn 115 triệu USD, giảm 46,2% so với cùng kỳ năm trước đó.

     

    Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Indonesia, Đài Loan và Thái Lan với kim ngạch đạt 187 triệu USD, 102 triệu USD, 79 triệu USD; 61 triệu USD; và 57 triệu USD.

     

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu tháng 9/2017 và 9 tháng đầu năm 2017

    ĐVT: nghìn USD

     

     

    KNNK 9T/2016

    KNNK T9/2017

    KNNK 9T/2017

    +/- so với T8/2017 (%)

    +/- so với T9/2016 (%)

    +/- so với 9T/2016 (%)

    Tổng KN

    2.533.271

    254.031

    2.473.171

    8,9

    -10,8

    -2,4

    Achentina

    1.137.557

    116.839

    1.190.736

    -10,1

    2,9

    4,7

    Ấn Độ

    56.704

    7.234

    102.951

    14,9

    144,0

    81,6

    Anh

    1.122

    53

    1.337

     

    -82,8

    19,2

    Áo

    92.728

    507

    47.434

    -57,9

    -96,8

    -48,9

    Bỉ

    7.920

    1.364

    9.722

    149,5

    63,2

    22,8

    Brazil

    122.331

    26.831

    104.243

    577,4

    -3,4

    -14,8

    UAE

    59.556

    5.754

    56.272

    30,5

    -22,4

    -5,5

    Canada

    8.827

    10.495

    55.660

    0,04

    1329,7

    530,5

    Chilê

    4.308

    1.347

    8.116

    8,4

    38,2

    88,4

    Đài Loan

    56.589

    8.709

    61.999

    0,6

    -2,3

    9,6

    Đức

    4.560

    765

    5.921

    -4,8

    33,3

    29,9

    Hà Lan

    21.282

    716

    15.278

    -41,3

    -61,1

    -28,2

    Hàn Quốc

    26.968

    3.415

    27.031

    -12,2

    28,0

    0,2

    Hoa Kỳ

    270.687

    6.099

    187.724

    -8

    -81,4

    -30,7

    Indonesia

    69.635

    8.665

    79.169

    36,9

    -2,6

    13,7

    Italia

    5.631

    3.988

    54.291

    256

    1261,7

    864,1

    Malaysia

    65.109

    2.051

    21.251

    1,7

    -29,7

    -67,4

    Mêhicô

    1.173

    76

    1.755

    77,4

    -76,8

    49,6

    Nhật Bản

    3.517

    316

    3.565

    -25,8

    57,6

    1,4

    Australia

    10.134

    185

    8.432

    -10,9

    -82,8

    -16,8

    Pháp

    15.689

    2.097

    19.399

    68,2

    13,5

    23,6

    Philippin

    10.365

    1.637

    13.671

    73,4

    20,1

    31,9

    Singapore

    15.040

    1.094

    11.340

    -16,1

    -47,0

    -24,6

    Tây Ban Nha

    27.344

    602

    8.160

    25,5

    -63,7

    -70,2

    Thái Lan

    71.342

    4.492

    57.971

    -39,9

    -54,1

    -18,7

    Trung Quốc

    215.125

    15.223

    115.820

    29,9

    -18,7

    -46,2

     

    Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

     

    Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 9 tháng đầu năm 2017

    Mặt hàng

     

    9T/2016

    9T/2017

    So với cùng kỳ

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (1000 tấn)

    Trị giá (nghìn USD)

    Lượng (%)

    Trị giá (%)

    Lúa mì

    3.472

    735.919

    3.598

    758.847

    3,6

    3,1

    Ngô

    5.571

    1.093.664

    5.609

    1.105.601

    0,7

    1,1

    Đậu tương

    1.121

    473.020

    1.279

    550.213

    14

    16,3

    Dầu mỡ động thực vật

     

    460.345

     

    543.018

     

    18

    (Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ)

     

    Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2017 đạt 216 nghìn tấn với giá trị đạt 54 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 9 tháng đầu năm 2017 lên gần 3,6 triệu tấn, với trị giá 758 triệu USD, tăng 3,64% về khối lượng và tăng 3,12% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2017 là Australia, chiếm tới 47%; tiếp đến là Canada chiếm 24%, thị trường Brazil chiếm 3%, thị trường Nga chiếm 2% và thị trường Hoa Kỳ chiếm 1 phần rất nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đều tăng cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016 ngoại trừ thị trường Hoa Kỳ và Brazil. Trong 9 tháng đầu năm 2017, thị trường Canada tăng vượt trội cả về lượng và trị giá, với khối lượng nhập khẩu tăng hơn 15 lần và giá trị tăng hơn 11 lần. Thị trường có lượng và trị giá nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là Brazil (giảm gần 69%).

     

    Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt 93 nghìn tấn với giá trị 40 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 9 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 1,2 triệu tấn và 550 triệu USD, tăng 14% về khối lượng và tăng 16,32% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

     

    Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt 788 nghìn tấn với giá trị đạt 147 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2017 đạt 5,6 triệu tấn và 1,1 tỉ USD, tăng 0,69% về khối lượng và tăng 1,09% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 9 tháng đầu năm 2017, chiếm lần lượt là 55% và 20,8% tổng giá trị nhập khẩu. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 12 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 2 lần.

     

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  •