• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 47.000 - 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên từ 53.000 - 53.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hải Dương 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Giang 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Tuyên Quang từ 52.000 - 52.500đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Phú Thọ, Vĩnh Phúc 51.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Trung Bộ từ 48.000 – 52.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trung và Nam Trung Bộ từ 47.000 – 49.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam 47.000 - 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bà Rịa Vũng Tàu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long An 49.000 – 50.000 đồng/kg
    •  
  • Kinh nghiệm xây dựng vùng an toàn dịch bệnh của Philipines

    [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Năm 2015, Philipines đã được OIE công nhận là quốc gia sạch bệnh LMLM không tiêm phòng.

     

    4 mắt xích thanh toán LMLM

     

    Năm 1996, Chính phủ Philipines đã thực hiện Kế hoạch quốc gia khống chế và thanh toán bệnh LMLM với chiến lược tập trung vào 4 mắt xích, đó là:

     

    Thứ nhất, triển khai hệ thống giám sát dịch bệnh, trong đó giám sát định kỳ huyết thanh học; đánh giá nguy cơ tập trung vào các vùng có nguy cơ cao với LMLM; giám sát lâm sàng; giám sát, xét nghiệp, cấp chứng nhận An toàn dịch bệnh cho các trang trại với bệnh LMLM.

    Kinh nghiệm xây dựng vùng an toàn dịch bệnh của PhilipinesẢnh minh họa

     

    Thứ hai, tăng cường nhận thức cộng đồng bằng cách thực hiện cam kết của các bên liên quan; vận động người tiêu dùng; nghiên cứu/khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng để điều chỉnh các kế hoạch truyền thông.

     

    Thứ ba, áp dụng chiến lược tiêm phòng vắc xin đại trà tại các khu vực nguy cơ cao: Áp dụng chính sách tiêm phòng triệt để cho toàn bộ gia súc ở các khu vực có nguy cơ cao. Ngừng tiêm phòng vào năm 2009.

     

    Thứ tư, thắt chặt quản lý vận chuyển gia súc bằng cách thiết lập 53 trạm kiểm dịch chiến lược dọc đất nước. Chương trình quốc gia được lên kế hoạch thực hiện cụ thể, chi tiết, tập trung vào từng khâu then chốt trong kế hoạch, được phân tích và đưa ra những biện pháp cụ thể cho mỗi khâu. Kết quả là năm 2005 không có ổ dịch lâm sàng nào được phát hiện. Hai biện pháp can thiệp chủ yếu được áp dụng đó là: 1, tiêu hủy chọn lọc gia súc mắc bệnh và không hỗ trợ cho chủ chăn nuôi; 2, Tiến hành tổng tiêu độc khử trùng chuồng trại, phương tiện vận chuyển.

     

    Áp dụng phương pháp phân vùng theo lộ trình 2002-2009

     

    Philippines xây dựng vùng an toàn dịch bệnh LMLM nhằm: Cô lập dịch bệnh tại khu vực nhất định; Nâng cấp tình trạng của khu vực từng vùng bị nhiễm bệnh đến vùng được bảo vệ bằng các biện pháp tương ứng (dựa trên 4 hợp phần), đặc biệt kiểm dịch vận chuyển chặt chẽ để ngăn ngừa nhiễm bệnh trở lại; Nâng cấp dần theo lộ trình từ vùng được bảo vệ đến vùng sạch bệnh (có hoặc không tiêm phòng) với các biện pháp áp dụng nghiêm ngặt theo lộ trình chăn nuôi.

     

    Năm 2009 ngừng tiêm phòng vùng Luzon để chuẩn bị cho OIE công nhận. Đến năm 2015, Philipines đã được OIE công nhận là quốc gia sạch bệnh LMLM không tiêm phòng.

     

    Các giai đoạn thanh toán LMLM

     

    Giai đoạn khống chế (1996-2000): nhằm giảm tỷ lệ mắc ở các khu vực có nguy cơ cao và loại bỏ các trường hợp bệnh ở khu vực có nguy cơ thấp.

     

    Giai đoạn hợp nhất (2000-2004): tập trung vào việc loại bỏ các trường hợp ở những khu vực liên quan.

     

    Giai đoạn thanh toán (2005-2010): nhằm giảm đáng kể các đợt dịch; thực hiện cách tiếp cận phân vùng theo lộ trình; lập bản đồ huyết thanh học ở Luzon để xác định vị trí nhiễm bệnh cuối cùng. Chính phủ Philipines đã chi cho chương trình thanh toán bệnh LMLM hàng chục triệu USD để khống chế, thanh toán LMLM.

                   

    P.V

    Để lại comment của bạn

  •