• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 32.000 - 44.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Bình, Hải Dương từ 32.000 - 35.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lào Cai, Yên Bái từ 40.000 - 44.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 38.000 – 47.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Thuận 45.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Ninh Bình từ 38.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 40.000 - 49.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai từ 43.000 – 46.000 đ/kg
    •  
  • Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 2 tháng đầu năm 2019 tăng nhẹ

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 2/2019 đạt 242 triệu USD, giảm 34,48% so với tháng trước đó nhưng tăng 0,2% so với cùng tháng năm ngoái. Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 2/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Ấn Độ và Brazil,… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 91 triệu USD, giảm 18,38% so với tháng trước đó và giảm 0,85% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 2 tháng đầu năm 2019 lên hơn 203 triệu USD, chiếm 33,2% thị phần.

    Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 2 tháng đầu năm 2019 tăng nhẹ

    Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 2/2019 đạt hơn 41 triệu USD, giảm 44,64% so với tháng 1/2019 nhưng tăng 35,61% so với tháng 2/2018. Tính chung, trong 2 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 117 triệu USD, tăng 78,41% so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Đứng thứ ba là Ấn Độ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 14 triệu USD, giảm 42,67% so với tháng 1/2019 và giảm 27,35% so với tháng 2/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm 2019 lên hơn 39 triệu USD, giảm 25,76% so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Tính chung, trong 2 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 613 triệu USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Chile với 2,1 triệu USD, tăng 241,82% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với 3 triệu USD, tăng 212,96% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với hơn 6 triệu USD, tăng 166,88% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Nhật Bản với hơn 496 nghìn USD, tăng 124,2% so với cùng kỳ.

     

    Nhập khẩu TĂCN & NL 2 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

    ĐVT: nghìn USD

    Thị trường T2/2019 +/- So vớiT2/2018 (%) 2T/2019 +/- So với 2T/2018 (%)
    Tổng KN 242.969 -34,5 613.757 6,0
    Argentina 91.613 -18,4 203.855 -7,6
    Ấn Độ 14.406 -42, 7 39.536 -25,8
    Anh 66 -5 136 -26,2
    Áo 175 -70,4 765 -32,2
    Bỉ 1.074 -22,2 2.455 -61,7
    Brazil 13.801 -61,1 49.278 0,1
    UAE 2.087 -1,1 4.198 -67,4
    Canada 2.483 20,1 4.551 19,5
    Chile 1.487 117,1 2.173 241,8
    Đài Loan (TQ) 3.259 -38,7 8.571 -2,3
    Đức 605 -47,6 1.759 -11,3
    Hà Lan 1.823 -15,8 3.989 33,3
    Hàn Quốc 2.669 -26,9 6.320 10,7
    Mỹ 41.932 -44,6 117.693 78,4
    Indonesia 7.031 -8,1 14.686 -29,1
    Italia 3.948 -37,8 10.292 30,8
    Malaysia 2.221 23,8 4.015 -25,3
    Mexico 117 -75,2 590 -41,7
    Nhật Bản 198 -33,6 496 124,2
    Australia 2.631 -24,5 6.118 166,9
    Pháp 2.284 -36,9 5.906 27
    Philippin 714 -40,3 1.909 -31,8
    Singapore 831 -64,9 3.195 27,0
    Tây Ban Nha 801 -63,8 3.016 213
    Thái Lan 6.483 -41,4 17.556 39,5
    Trung Quốc 7.477 -68,6 31.249 -15,6

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 2 tháng đầu năm 2019.

     

    Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 2 tháng đầu năm 2019

     

    Mặt hàng

     
    2T/2019 +/- So với 2T/2018
    Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
    Lúa mì 368 103.727 -52,9 -44,0
    Ngô 1.614 340.944 8,5 20,8
    Đậu tương 326 128.873 18,3 10,2
    Dầu mỡ động thực vật   96.818   -14,4

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 2/2019 đạt 102 nghìn tấn với kim ngạch đạt 28 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 2 tháng đầu năm 2019 lên hơn 368 nghìn tấn, với trị giá hơn 103 triệu USD, giảm 52,85% về khối lượng và giảm 44,04% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  2 tháng đầu năm 2019 là Nga chiếm 49% thị phần; Australia chiếm 37%, Canada chiếm 7%, Brazil chiếm 2% và Mỹ chiếm không đáng kể.

     

    Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Mỹ, Brazil và Canada. Trong 2 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Mỹ giảm 99,55% về lượng và giảm mạnh 99,47% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Brazil giảm 87,63% về lượng và giảm 84,58% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Canada giảm 75,18% về lượng và giảm 75,62% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 2/2019 đạt 169 nghìn tấn với trị giá hơn 67 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 2 tháng đầu năm 2019 lên hơn 326 nghìn tấn và 128 triệu USD, tăng 18,25% về khối lượng và tăng 10,23% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 2/2019 đạt hơn 697 nghìn tấn với trị giá đạt 148 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 2 tháng đầu năm 2019 lên  hơn 1,6 triệu tấn, trị giá hơn 340 triệu USD, tăng 8,49% về khối lượng và 20,82% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Brazil và Argentina là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 78% và 19% thị phần. Tuy nhiên, trong 2 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 69,53% về lượng và 66,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Vũ Lanh

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn