• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 43.000 - 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 45.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Ninh Bình 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc từ 50.000 - 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 35.000 – 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị 38.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Thuận từ 40.000 - 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 32.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh từ 27.000 - 28.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long từ 39.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tây Ninh, Đồng Tháp, Long An từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    •  
  • Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 giảm 3,19%

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 6/2019 đạt 301 triệu USD, giảm 14,73% so với tháng trước đó và giảm 17,91% so với cùng tháng năm ngoái. Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 6/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 132 triệu USD, giảm 14,3% so với tháng trước đó nhưng tăng 92,31% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 702 triệu USD, chiếm 36,7% thị phần.

    Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 giảm 3,19%

    Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 6/2019 đạt hơn 34 triệu USD, giảm 18,19% so với tháng 5/2019 và giảm 48,69% so với tháng 6/2018. Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 325 triệu USD, tăng 1,34% so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 34 triệu USD, tăng 22,87% so với tháng 5/2019 nhưng giảm 66,34% so với tháng 6/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 148 triệu USD, giảm 48,37% so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 1,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm 3,19% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Canada với 26,5 triệu USD, tăng 146,79% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 16,9 triệu USD, tăng 118,96% so với cùng kỳ năm 2018, Thái Lan với hơn 62 triệu USD, tăng 18,49% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Argentina với hơn 702 triệu USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ.

     

    Nhập khẩu TĂCN & NL 6 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

    ĐVT: nghìn USD

    Thị trường T6/2019 +/- So vớiT6/2018 (%) 6T/2019 +/- So với 6T/2018 (%)
    Tổng KN 301.392 -14,7 1.913.675 -3,2
    Argentina 132.290 -14,3 702.707 8,6
    Ấn Độ 11.080 -19 97.994 -2,4
    Anh 128 7,1 606 -8,9
    Áo 99 -75,8 1.575 -55,6
    Bỉ 195 -63,2 5.160 -72,3
    Brazil 34.313 22,9 148.578 -48,4
    UAE 3.378 1,3 13.727 -63,8
    Canada 4.874 -20,8 26.580 146,8
    Chile 113 -85,9 4.801 -21,8
    Đài Loan (TQ) 6.256 -24,7 34.324 -21,7
    Đức 846 23,1 5.163 2,2
    Hà Lan 674 -52,1 8.584 -14,8
    Hàn Quốc 4.437 -11,9 25.099 2,2
    Mỹ 34.514 -18,2 325.323 1,3
    Indonesia 5.596 62,3 35.424 -30,3
    Italia 2.334 -32,1 26.053 1,1
    Malaysia 1.641 -54,4 14.095 -15,9
    Mexico 87 9,9 1.137 -47,9
    Nhật Bản 317 54,12 1.320 -28,6
    Australia 1.937. -39,74 16.926 119
    Pháp 2.158 -18,90 16.327 -3,8
    Philippin 1.194 -33,7 8.869 8,5
    Singapore 1.376 -9,4 8.539 3,2
    Tây Ban Nha 632 -7,9 5.707 8,3
    Thái Lan 10.549 -22,7 62.708 18,5
    Trung Quốc 16.812 -1,2 96.544 -13,5

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 6 tháng đầu năm 2019.

     

    Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 6 tháng đầu năm 2019

     

    Mặt hàng

     
    6T/2019 +/- So với 6T/2018
    Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
    Lúa mì 1.253 351.298 -54,4 -46,4
    Ngô 4.582 957.674 -6,1 -2,6
    Đậu tương 957 377.129 14,6 3,3
    Dầu mỡ động thực vật   331.711   -6,7

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 6/2019 đạt 208 nghìn tấn với kim ngạch đạt 56 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,253 triệu tấn, với trị giá hơn 351 triệu USD, giảm 54,36% về khối lượng và giảm 46,35% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  6 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 41% thị phần; Nga chiếm 14%, Canada chiếm 19%, Brazil chiếm 7% và Mỹ chiếm không đáng kể 2%.

     

    Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ và Australia. Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 86,75% về lượng và giảm mạnh 83,68% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 75,38% về lượng và giảm 76,24% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 32,26% về lượng và giảm 24,98% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Canada tăng 20,66% về lượng và tăng 22,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 6/2019 đạt 188 nghìn tấn với trị giá hơn 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 957 nghìn tấn và 377 triệu USD, tăng 14,56% về khối lượng và tăng 3,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 6/2019  đạt hơn 471 nghìn  tấn với trị giá đạt 95 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2019 lên hơn 4,5 triệu tấn, trị giá hơn 957 triệu USD, giảm 6,06% về khối lượng và giảm 2,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

     

    Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 6 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.  Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 60% và 37% thị phần.

     

    Vũ Lanh

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

     

     

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.