• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 42.000 - 47.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 46.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Dương 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Nam Định từ 45.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quốc Oai 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 48.000 – 50.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Định 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lak 49.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Tĩnh 48.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tân Uyên (Bình Dương) 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Gia Kiệm (Đồng Nai) từ 51.000 – 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trảng Bom (Đồng Nai), Trà Vinh 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long 51.000 đ/kg
    •  
  • Những biến dị di truyền trên heo

    Chăn nuôi heo quy mô lớn như chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao, thì tỷ lệ heo bị khuyết tật gây thiệt hại lớn tới chi phí sản xuất do ảnh hưởng đến hiệu suất của toàn trang trại. Các rối loạn di truyền ở heo thường phát sinh từ những bất thường trên hệ gen của chúng. Có một số bệnh sẽ thể hiện ngay ở heo mới sinh (bẩm sinh), tuy nhiên cũng có nhiều bệnh chỉ biểu hiện ở giai đoạn heo trưởng thành hoặc sau khi giết mổ. Có 200 loại bệnh do rối loạn gen gây ra từ những bệnh rất hiếm đến các bệnh phổ biến.

     

    Dưới đây chúng tôi xin phân tích một số nguyên nhân, cơ chế biến dị di truyền và một số biến dị di truyền quan trọng của heo.

     

    Tỷ lệ sơ sinh đối với heo con thông thường bị dị dạng hay khuyết tật ít nhất là 1%. Các khuyết tật này có thể do các yếu tố môi trường hay di truyền, tuy không thường xuyên nhưng khi xảy ra cũng gây thiệt hại đến kinh tế. Trước đây đối với những hiện tượng khuyết tật thông thường đều cho rằng là biến dị di truyền nhưng sau này phát hiện thêm hiện tượng thai không bình thường do một số yếu tố ngoại cảnh như: nhiễm virus, thiếu chất trong dinh dưỡng, hoặc trong quá trình mang thai heo nhiễm hóa chất hay thuốc trừ sâu.

     

    Theo tính toán của FAO (2015), chỉ riêng bốn khuyết tật (choãi chân, thoát vị bẹn, thoát vị rốn và tịt hậu môn) đã chiếm 0,263%. Tức là, cứ 380 lợn sơ sinh sống thì có 1 con khuyết tật bẩm sinh. Như vậy, mỗi năm tổn thất 3.340.000 lợn con trên toàn cầu. Nếu trị giá một lợn con là 30 USD thì bốn khuyết tật vừa nêu đã gây tổn thất cho toàn cầu 100 triệu USD mỗi năm.

     

    Nhóm tác giả Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (2012), khảo sát 900 lợn sơ sinh tại 2 trại lợn ở Đồng Nai trong 5 tháng, cho thấy có 31 con (3,44%) bị thoát vị rốn (2,11%) và thoát vị bẹn (1,33%).

    Những biến dị di truyền trên heo

    Hình 1. Heo con bị dị tật (Nguồn internet)

     

    1. Nguyên nhân gây ra các biến dị:

     

    Khi trong bầy heo sơ sinh có con bị dị dạng thì người chăn nuôi phải xác định lại xem hiện tượng biến dị này có nguồn gốc di truyền hay không bằng cách trả lời các câu hỏi như:

     

    • Có phải tất cả những con heo dị tật sinh ra đều cùng một giống hay cùng một bố sinh ra không? Do hiện tượng biến dị này ít khi xảy ra do đó nếu hiện tượng này xảy ra trên nhiều giống heo, hay trên nhóm heo có cùng bố hoặc có quan hệ họ hàng hoặc xảy ra trên đàn lai mà không xảy ra trên đàn bố mẹ thuần chủng.
    • Nếu hiện tượng này xảy ra ở các con có cùng chung một bố thì có phải tất cả các lứa lợn con cùng chung một bố đều xảy ra hay không?  Nếu các con đẻ ra ở các lứa có cùng chung bố hoặc cùng chung mẹ thì có thể nghi ngờ có liên quan tới di truyền. Nếu hiện tượng xảy ra cùng bố nhưng con mẹ không có quan hệ họ hàng thì phải xét tới các yếu tố ngoại cảnh vì nếu dị tật là do biểu hiện của gen trội thì con bố phải có biểu hiện khuyết tật.
    •  Có phải hiện tượng dị tật xảy ra do giao phối cận huyết hay không? Việc giao phối cận huyết làm tăng sự xuất hiện và biểu hiện của các gen lặn.
    • Các lứa heo bị dị tật có cùng chung điều kiện môi trường khi heo mẹ mang thai không? Vì không thể là biến dị di truyền khi các lứa heo cùng bố và cùng mẹ cùng nguồn gốc được sinh ra ở các thời điểm khác nhau lại có biểu hiện dị tật và không có biểu hiện dị tật trong khoảng thời gian theo dõi.

     

    1. Cơ chế của khuyết tật di truyền:

     

    Những sai lệch về cấu trúc nhiễm sắc thể (NST): NST có hình sợi chỉ nằm trong nhân tế bào và mang thông tin di truyền. Trong tế bào cơ thể NST chỉ tồn tại thành một cặp, song tế bào trứng và tinh trùng chỉ có 1 NST và có 2 loại NST là NST bình thường và NST giới tính.

     

    • Số lượng NST tăng hoặc giảm hơn so với bình thường, trên heo có 19 cặp NST dù số lượng NST tăng hay giảm đều dẫn tới hậu quả làm cho phôi bị chết sớm. Nếu số lượng NST giơi tính tăng lên làm cho heo bị vô sinh.
    • Nếu có những thay đổi về cấu trúc NST trong quá trình NST tách ra hoặc tái tổ hợp lại không bình thường trong quá trình tạo trứng hay tinh trùng đều làm cho thai dị dạng, chết trong bào thai hoặc khi sinh ra sẽ chết.

     

    Di truyền đơn giản: Gen là đơn vị di truyền nhỏ nhất nếu các gen này có biến đổi trên nhiễm sắc thể thì thường không có thay đổi bất thường trên tính trạng. Ngoài ra có thể di truyền cho thế hệ sau theo cơ chế đơn giản như:

     

    • Di tryền gen trội đơn giản: nếu các gen di truyền đủ biểu hiện ra ngoài thành dị tật thì đó là gen trội bản chất của tính trạng này là do quá trình chọn lọc tự nhiên.
    • Di truyền gen lặn liên kết giới tính: gen này chỉ có trên NST X vì NST Y chỉ có rất ít gen hoạt động do vậy tần suất biểu hiện trên con đực cao hơn trên con cái.
    • Di truyền hạn chế giới tính: tức là biến dị này chỉ xảy ra trên con đực hoặc con cái do tình trạng này có liên quan tới nhứng đặc thù giới tính như bệnh thoát vị dương vật chỉ sảy ra trên con đực.

     

    Di truyền đa gen: Những biến dị này do nhiều gen trên NST gây ra nó phản ánh tỷ lệ sự sai khác về di truyền trong tổng số tất cả những sai khác của tính trạng đó.

     

    • Khả năng di truyền tiềm ẩn là những biến dị có khả năng di truyền nhưng chỉ thể hiện khi gặp một điều kiện ngoại cảnh cụ thể. Khả năng di truyền có thể cao nhưng gặp môi trường bất lợi thì tỷ lệ mắc bệnh nhỏ.

     

    Một số biến dị quan trọng:

     

    • Hội chứng stress ở heo (PSS): Hiện tượng đặc trưng của hội chứng này là những con heo to cơ bị chết đột ngột hoặc làm cho thịt của chúng có màu tái, mềm nhũn và rỉ nước (hội chứng PSE) hiện tượng này đã được chứng minh là do di truyền thông qua gen lặn ở tế bào thường. Bằng phương pháp kiểm tra Halothene hay (CPK) và phân loại máu sẽ tìm ra được con mang gen PSS.
    • Hiện tượng thoát vị dương vật (sệ dương vật): Tình trạng hạn chế giới tính này chủ yếu trên heo đực do hệ cơ xung quanh bẹn yếu do đó để cho tinh hoàn lọt xuống bìu dương vật. Đa số lệch về phía tay trái nên khi thiến cần cẩn thận tránh thiệt hại tới kinh tế. Biểu hiện của gen này phụ thuộc vào cơ thể heo mẹ và ảnh hưởng của tác động môi trường.
    • Hiện tượng sa ruột: Ở vùng rốn bị yếu thì sẽ dẫn tới hiện tượng ruột sa xuống qua thành bụng. Một số con bị dị tật này có thể chết khi đang lớn do bị kẹt ruột, song đa số heo bị hiện tượng này có thể đạt tới trọng lượng xuất chuồng mà không có ảnh hưởng rõ rệt. Bên cạnh nguyên nhân này còn có một số nguyên nhân khác như: Do dị tật cá thể trong quá trình hình thành thai có sự sai sót, lỗ rốn không đóng kín. Quá trình đỡ đẻ chăm sóc có sai sót, gây viêm nhiễm rốn, rốn lâu lành, lâu rụng, có abscess, lợn con thiếu sữa mẹ bú rốn lẫn nhau… gây tổn thương, ảnh hưởng lỗ rốn, lỗ rốn rộng ra, không đóng kín, sau đó hình thành hernia.
    Những biến dị di truyền trên heo
    Hình 2. Hernia rốn trên con đực
     
    • Hiện tượng tịt hậu môn: đặc trưng của bệnh này là heo sinh ra không có trực tràng. Con đực có thể bị chết sau vài ngày nếu không được làm phẫu thuật thông hậu môn để thải chất cặn bã. Con cái không có lỗ hậu môn có thể thải qua đường âm hộ mà vẫn phát triển bình thường. Tuy nhiên nếu tỷ lệ mắc cao có thể do nguyên nhân di truyền thì có thể loại bỏ những con cùng huyết thống với bố mẹ và các anh chị em cùng lứa.
    • Hiện tượng tinh hoàn ẩn: có thể là 1 tinh hoàn hoặc 2 tinh hoàn nằm ẩn trong bụng. Đôi với trường hợp cả 2 tinh hoàn ẩn trong bụng thì heo đực này sẽ bị vô sinh do vậy cần loại bỏ bố mẹ và anh chị em cùng lứa.
    • Hiện tượng lưỡng tính: thông thường hay thấy ở giống heo Đại Bạch và Landrace. Có giả thuyết cho rằng hiện tượng này do sự thay đổi về cấu trúc NST do NST Y bị đảo chéo sang NST X. Đối khi những con cái bị lưỡng tính xuất hiện trong lứa heo có số lượng con đông làm cho thai đực và thai cái nối nhau cùng hưởng chung một đường cấp máu
    • Những biến dị đầu vú: Đây là hiện tượng khá đáng lo vì các đầu vú không nhô ra ngoài. Tuyến tiết sữa ở đầu vú bị lõm vào trong không thể tiết sữa bình thường được. Tuy nhiên cơ chế di truyền này vẫn chưa khẳng định là do di truyền mà do nhiều tác nhân khác như xây sát, do mẩm ngứa, do cọ sát trên những sàn chuồng nhám gồ ghề.
    • Hiện tượng co giật: hầu hết là do bẩm sinh nhưng cũng có trường hợp sau này khi lớn mới biểu hiện. Các biểu hiện như run, lắc, rung hoặc tật giật mình hay hoảng hốt. Chứng co giật trên heo tính theo mức độ biểu hiện của trạng thái được chia làm 4 loại: loại A1 do nhiễm một số chủng virus dịch tả heo gây ra do viêm qua nhau thai, loại A2 do các virus khác ngoài dịch tả gây ra còn loại nhẹ hơn loại A3 do di truyền. Một số kết quả quan sát tại đại hoc Bang Lowa cho thấy loại hình A3 xảy với nhiều chủng Landrace. Kết quả mổ khám cho thấy hàm lượng myelin trong hệ thần kinh trung ương bị giảm xuống dưới mức bình thường và tủy sống nhỏ hơn mức bình thường, đồng thời A4 do gen điều khiển nhưng chỉ ảnh hưởng với giống lợn saddleblack (lưng yên ngựa) của Anh. Biểu hiện đặc trưng là thiếu hụt nghiêm trọng Myeline (nguyên liệu bao bọc một số sợi thần kinh) trong hệ thần kinh trung ương.
    • Những khuyết tật về chân: có nhiều biến dị về chân được phát hiện trên heo. Thông thường hay gặp một số trường hợp bẩm sinh như sau:

     

    + Chân choai, bẹt: hiện tượng chân dạng này là một khuyết tật chủ yếu xảy ra ở chân sau và có đôi khi bị cả ở chân trước. Do các sợi cơ ở chân sau và chân trước phát triển không hoàn chỉnh chủ yếu trên giống Landrace và Yorkshne. Do khả năng di truyền tiềm ẩn của hiện tượng yếu cơ, nhiễm virus, thiếu dinh dưỡng, chuồng bị trơn.

    Những biến dị di truyền trên heo

    Hình 3. Dị dạng chân heo sơ sinh

     

    + Các ngón chân trong bị nhỏ: người ta cho rằng hiện tượng này chủ yếu có nguồn gốc di truyền tuy nhiên cơ chế di truyền vẫn còn chưa rõ.

     

    + Chân cong gập: hiện tượng biến dị này chủ yếu chỉ xảy ra ở chân trước, chân sau đôi khi cũng bị ảnh hưởng. Một số nghiên cứu cho thấy hiện tượng này chủ yếu do nhiễm virus, ngộ độc hóa chất, thức ăn thực vật, bị sốt cao và thiếu dinh dưỡng.

     

    + Tật thừa ngón chân: tật này ít ảnh hưởng về giá trị kinh tế cho đến nay vẫn chưa nghiên cứu được chính xác khuyết tật này.

     

    + Tật dính ngón: cả bàn chân chỉ có 1 ngón chứ không phải 2 ngón như bình thường. cơ chế di truyền chủ yếu qua gen trội.

     

    + Chân trước to hơn bình thường: đây là hiện tượng mô liên kết thay thế cơ bắp ở chân trước của heo.

     

    Các biện pháp xóa bỏ các gen gây ra biến dị di truyền

     

    Nếu trang trại xuất hiện những biến dị di truyền có thể tiến hành một số giải pháp khắc phục như loại bỏ những con đực đã truyền dị tật đó thay thế bằng các con giống khác không có quan hệ họ hàng với con đực có khả năng truyền dị tật.

     

    Đối với những biến dị di truyền lặn đơn giản thì loại bỏ con bố mẹ.

     

    Đối với những biến dị di truyền nghiêm trọng ảnh hưởng tới kinh tế thì loại bỏ con bố mẹ và loại bỏ những con họ hàng có cùng huyết thống để giảm tần xuất biểu hiện của những dị tật trên heo con.

     

    Mặc dù việc hiểu biết và khống chế tần xuất biểu hiện của các gen gây dị tật trên heo là cần thiết và phải chú trọng nhưng dị tật bẩm sinh này chiếm tỷ lệ khá thấp chỉ có 1%. Do vậy vẫn cần quan tâm hơn cả tới các chỉ tiêu chăn nuôi như tốc độ, hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng có như vậy mới đảm bảo được hiệu quả của việc chăn nuôi.

     

    Trên đây là một số vấn đề cần quan tâm đối các dị tật bẩn sinh trên heo con mà người chăn nuôi heo cần biết./.

     

    Trần Thị Nhung

    Nguồn: Chi cục Thú y Bình Dương

    Để lại comment của bạn

  •