• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 43.000 - 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 45.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Ninh Bình 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc từ 50.000 - 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 35.000 – 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị 38.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Thuận từ 40.000 - 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 32.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh từ 27.000 - 28.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long từ 39.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tây Ninh, Đồng Tháp, Long An từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    •  
  • Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 11/2018

    TÌNH HÌNH CHUNG

     

    Theo Bộ NN&PTNT, sản xuất nông nghiệp 11 tháng đầu năm 2018 ổn định. Xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 11 tháng ước đạt 508 triệu USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng 10 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt hơn 25,3 triệu USD (tăng hơn 2,5 lần); sữa và các sản phẩm từ sữa đạt 95,6 triệu USD (tăng gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2017).

    Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 11/2018

    Chăn nuôi trâu, bò:

     

    Đàn trâu phát triển ổn định, đàn bò phát triển tăng nhưng không cao như giai đoạn trước do nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thị trường đầu ra. Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm tháng 11, tổng số trâu của cả nước giảm 1%, tổng số bò tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Chăn nuôi lợn:

     

    Nguồn cung thịt lợn đang dần ổn định. Giá thịt lợn hơi cả nước trong tháng 11 giảm nhẹ so với thời gian trước nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao, trên 50.000 đồng/kg. Theo số liêu ước tính của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 11, tổng đàn lợn cả nước tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Chăn nuôi gia cầm:

     

    Đàn gia cầm trong tháng 11 phát triển tốt, giá bán ổn định, dịch bệnh lớn không xảy ra khiến người chăn nuôi yên tâm đầu tư, mở rộng quy mô đàn. Ước tính đến tháng 11, tổng đàn gia cầm cả nước tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 25/11/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

     

    – Dịch cúm gia cầm: Tính đến ngày 25/11/2018 cả nước không có tỉnh nào có dịch cúm gia cầm.

     

    – Dịch lở mồm long móng: Tính đến ngày 25/11/2018 cả nước có 05 ổ dịch tại 05 xã, thị trấn (Tân Lập, Hướng Tân, Hướng Sơn, Tân Long và Lao Bảo), thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đang có dịch lở mồm long móng. Tuy nhiên các ổ dịch này đã qua 11 ngày và không có gia súc mắc mới.

     

    – Dịch lợn tai xanh: Tính đến ngày 25/11/2018, cả nước không có dịch lợn tai xanh.

    Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 11/2018

    THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

     

    Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 11 năm 2018 ước đạt 50 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 508 triệu USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2017. Mười tháng đầu năm 2018 giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gia cầm đạt 25,3 triệu USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2017; Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ trâu, bò và lợn đạt lần lượt là 2,76 triệu USD và 36,8 triêu USD, giảm 50,5% và giảm 47,6% so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Thị trường lợn hơi trong nước biến động giảm trong tháng qua. Ở miền Bắc, giá lợn hơi dao động từ 44.000 – 49.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg so với tháng trước. Tại Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, giá lợn hơi dao động từ 47.000 – 48.000 đ/kg. Các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Sơn La, giá lợn hơi đạt 44.000 – 49.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung, Tây Nguyên phổ biến từ 46.000 – 49.000 đ/kg, giảm 3.000 đ/kg. Tại các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, giá lợn hơi đạt 48.000 đ/kg. Riêng Nghệ An có giá lợn hơi cao hơn, đạt 49.000 đ/kg. Tại khu vực Tây Nguyên, giá lợn hơi dao động trong khoảng 47.000 – 48.000 đ/kg. Giá lợn hơi thương lái thu mua tại các khu vực chăn nuôi trọng điểm phía Nam hiện trung bình từ 49.000 – 52.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg so với tháng trước. Giá lợn hơi tại một số tỉnh đồng bằng song Cửu Long như Trà Vinh, Vĩnh Long hiện duy trì ở mức 51.000 đ/kg; An Giang, Tiền Giang có giá 50.000 đ/kg, còn tại Long An, Cà Mau và Tây Ninh, giá lợn hơi cao hơn, đạt khoảng 51.000 – 52.000 đ/kg. Tuy giá lợn hơi đã giảm so với trước, song mức giá trên vẫn được đánh giá là cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Do giá lợn hơi ở mức cao nên giá thịt lợn bán lẻ đến tay người tiêu dung cũng duy trì mức cao. Điều này sẽ gây bất lợi cho thị thường thịt lợn thương phẩm trong nước vì giá thịt lợn nhập khẩu đang thấp hơn.

     

    THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

     

    Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

     

    Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 11/2018 đạt 319 triệu USD, giảm 4,19% so với tháng trước đó nhưng tăng 23,19% so với cùng tháng năm ngoái. Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 11/2018 vẫn là Argentina, Mỹ, Ấn Độ và Trung Quốc,… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 137 triệu USD, tăng 13,97% so với tháng trước đó và tăng 64,5% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 11 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,1 tỉ USD, chiếm 32,3% thị phần.

    Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 11/2018

    Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 11/2018 đạt hơn 57 triệu USD, giảm 10,67% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 48,86% so với cùng tháng năm trước. Tính chung, trong 11 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 624 triệu USD, tăng 166,37% so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Đứng thứ ba là Ấn Độ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 24 triệu USD, tăng 92,18% so với tháng trước đó và tăng 41,55% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 11 tháng đầu năm 2018 lên hơn 176 triệu USD, tăng 35,57% so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Tính chung, trong 11 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi hơn 3,5 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Brazil với 424 triệu USD, tăng 213,8% so với cùng kỳ, Mỹ với 624 triệu USD, tăng 166,37% so với cùng kỳ, Chile với hơn 24 triệu USD, tăng 157,97% so với cùng kỳ, sau cùng là Mexico với hơn 3,8 triệu USD, tăng 77,97% so với cùng kỳ.

     

    Nhập khẩu TĂCN & NL 11 tháng đầu năm 2018 theo thị trường

     

    ĐVT: nghìn USD

    Thị trường T11/2018 +/- So vớiT10/2018 (%) 11T/2018 +/- So với 11T/2017 (%)
    Tổng KN 319.043 -4,2 3.540.755 18,6
    Argentina 137.448 14 1.144.882 -18,5
    Ấn Độ 24.345 92,2 176.623 35,6
    Anh 22 -72,8 1.136 -28,4
    Áo 566 150,8 5.668 -88,5
    Bỉ 1.017 37,2 23.129 55
    Brazil 2.931 -91,1 424.257 213,8
    UAE 1.538 -23,7 53.279 -23,6
    Canada 1.269 -30,9 18.838 -72
    Chile 683 -78,1 24.336 158
    Đài Loan (TQ) 5.206 -27,1 82.847 9,7
    Đức 887 8,2 9.294 18
    Hà Lan 2.883 -4,5 22.990 26,8
    Hàn Quốc 3.635 -14,2 44.790 30,5
    Mỹ 57.688 -10,7 624.477 166,4
    Indonesia 9.306 14,7 87.320 -7,6
    Italia 6.831 31,7 49.942 -16,8
    Malaysia 3.378 120,6 32.831 25,9
    Mexico 294 -25,2 3.830 78
    Nhật Bản 345 -7,9 3.676 -17,3
    Australia 4.007 177,5 16.927 51,3
    Pháp 3.075 -20,7 32.011 41,0
    Philippin 1.938 -35,7 16.220 -5,9
    Singapore 1.947 -4,6 16.722 17,7
    Tây Ban Nha 2.590 29,3 16.631 65,5
    Thái Lan 6.825 4,1 93.124 32,9
    Trung Quốc 15.792 -13,3 207.304 41,5

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật tăng trong 11 tháng đầu năm 2018.

     

    Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 11 tháng đầu năm 2018

     

    Mặt hàng

     
    11T/2018 +/- So với cùng kỳ 2017
    Lượng (nghìn tấn) Trị giá (nghìn USD) Lượng (%) Trị giá (%)
    Lúa mì 4.741 1.134.182 10,3 23,6
    Ngô 9.143 1.903.002 26,3 34,8
    Đậu tương 1.706 728.229 16 15,1
    Dầu mỡ động thực vật   673.882   -2,2

    Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

     

    Lúa mì: 

     

    Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 11/2018 đạt 136 nghìn tấn với kim ngạch đạt 32  triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 11 tháng đầu năm 2018 lên hơn 4,7 triệu tấn, với trị giá hơn 1,1 tỉ USD, tăng 10,31% về khối lượng và tăng 23,61% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 11 tháng đầu năm 2018 là Nga chiếm 55% thị phần; Australia chiếm 23%, Canada chiếm 7%, Mỹ chiếm 6% và Brazil chiếm 1%.

     

    Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 11 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 6 lần và về trị giá tăng hơn 7 lần. Tương tự, Mỹ cùng tăng hơn 6 lần cả về lượng và trị giá.

     

    Đậu tương: 

     

    Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 11/2018 đạt 256 nghìn tấn với giá trị hơn 101 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 11 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,7 triệu tấn và 728 triệu USD, tăng 15,98% về khối lượng và tăng 15,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Ngô: 

     

    Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 11/2018 đạt hơn 955 nghìn tấn với trị giá đạt 203 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 11 tháng đầu năm 2018 lên  hơn 9,1 triệu tấn, trị giá hơn 1,9 tỉ USD, tăng 26,31% về khối lượng và 34,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 50% và 18% thị phần. Đặc biệt, trong 11 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

     

    Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

     

    Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 năm 2018 ước đạt 228 nghìn tấn với giá trị đạt 101 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 2,2 triệu tấn và 886 triệu USD, giảm 36,3% về khối lượng và giảm 2,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 10 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 86,9% thị phần, giảm 37,2% về khối lượng và giảm 3,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Nguồn: Chăn nuôi Việt Nam

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

     

     

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.