• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Tuyên Quang từ 33.000 - 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lạng Sơn từ 34.500 - 35.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Móng Cái từ 34.000 - 35.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cao Bằng từ 35.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 31.000 - 36.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lak từ 32.000 - 34.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 27.000 - 33.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi TP. HCM từ 30.000 - 33.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai khoảng 31.000 đ/kg
  • Tình hình chăn nuôi tháng 09/2017

    Theo Cục Chăn nuôi – Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi trâu, bò cả nước trong tháng 9/2017 không có biến động lớn, giá bán ổn định. Ước tính tổng số trâu cả nước trong 9 tháng đầu năm giảm khoảng 0,5%, tổng đàn bò tăng khoảng 2,7% so với cùng kỳ năm 2016. Chăn nuôi lợn tại các trang trại, gia trại chăn nuôi lợn quy mô lớn tái đàn nhưng số lượng hạn chế, còn các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thì ít hoặc không tái đàn. Ước tính tổng số lợn cả nước giảm khoảng 4,2%, tổng đàn gia cầm tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2016.

    Tình hình chăn nuôi tháng 09/2017

    Tình hình chung

     

    Chăn nuôi trâu: trong 9 tháng đầu năm 2017, đàn trâu trên cả nước phát triển chậm, lượng trâu bán tại một số tỉnh miền núi phía Bắc tương đối lớn. Ước tính, tổng số trâu hiện nay giảm 0,5%; trong khi đó sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2016.

     

    Chăn nuôi bò: chăn nuôi bò phát triển ổn định và có chiều hướng tiếp tục tăng đàn, đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt (tăng khoảng 3-4%) và mở rộng thêm ở một số địa phương như: Phú Yên, Thanh Hóa, Lâm Đồng… Ước tính, trong 9 tháng đầu năm 2017, tổng số bò của cả nước tăng khoảng 2,7%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2016.

     

    Chăn nuôi lợn: trong 5 tháng đầu năm 2017 chăn nuôi lợn gặp nhiều khó khăn do giá cả liên tục xuống thấp dưới giá thành, nguồn cung nhiều hơn so với nhu cầu tiêu thụ. Tuy nhiên, sau khi các cấp Bộ, ngành đồng loạt triển khai các nhóm giải pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm ổn định và hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn, giá thịt lợn hơi đã ngăn đà giảm và ổn định trong suốt các tháng tiếp theo, đàn lợn cũng được duy trì (cả nước đã loại thải được gần 500 ngàn lợn nái, tương đương với khoảng 10,28 %). Ước tính số lượng lợn ở thời điểm hiện tại của cả nước giảm khoảng 4,2% so với cùng kỳ năm 2016 (sản lượng thịt lợn hơi đến thời điểm có thể xuất chuồng tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2016). Dự báo, Quý IV năm 2017, đàn lợn sẽ tăng trở lại do các địa phương và doanh nghiệp chăn nuôi đã ổn định đàn lợn nái, nguồn cung con giống cho hoạt động sản xuất chăn nuôi tăng lên, chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng thịt lợn trong nước các tháng cuối năm và dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán 2018.

     

    Chăn nuôi gia cầm: những tháng đầu năm 2017, dịch cúm gia cầm phát sinh tại một số tỉnh, tuy nhiên, số ổ dịch xảy ra nhỏ lẻ và đã được khống chế. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước hiện tại tăng khoảng 5,3%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 6,1% và sản lượng trứng gia cầm ước tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2016.

     

    Thị trường sản phẩm chăn nuôi

     

    Trong tháng 9/2017, giá thịt lợn hơi trong nước giảm do nguồn cung thịt lợn trên thị trường vẫn rất dồi dào, trong khi đó, xuất khẩu theo đường chính ngạch và tiểu ngạch đều chưa có dấu hiệu khả quan.

     

    Thị trường tiêu thụ và giá sản phẩm thịt lợn

     

    Trong tháng 9/2017, giá thịt lợn biến động theo xu hướng giảm, trong 2 tuần đầu tiên giá dao động quanh mức 30.000-34.000 đg/kg tại miền Bắc và 30.000-32.000 đg/kg tại miền Nam (giảm 5.000 đg/kg so với tháng 8/2017 ở cả hai miền); hiện nay giá tại cả 2 miền giao động trong khoảng từ 29.000-31.000 đg/kg.

     

    Thị trường tiêu thụ và giá sản phẩm thịt, trứng gia cầm: theo thông tin từ một số doanh nghiệp, chủ trang trại lớn, trong 2 tuần đầu tháng 9/2017, tại miền Nam giá gà thịt công nghiệp lông trắng dao động từ 28.000-29.000 đg/kg tăng khoảng 3.000 đg/kg so với giá bình quân của tháng 8, sang tuần thứ 3 giá lại giảm mạnh xuống chỉ còn 21.000-22.000 đg/kg; giá gà thịt lông màu nuôi công nghiệp lại tăng mạnh so với tháng 8, bình quân 2 tuần đầu tháng là 33.000-35.000 đg/kg (tăng khoảng 5.000 đg/kg) và hiện nay đang dao động quanh mức 37.000-38.000 đg/kg (tăng khoảng 8.000-9.000 đg/kg so với bình quân trong tháng 8); trong khi đó giá miền Bắc, giá gà công nghiệp lông trắng bình quân từ 25.000-28.000 đg/kg (giảm nhẹ so với tháng 8) còn giá gà lông màu nuôi thả vườn dao động trong khoảng 61.000-63.000 đg/kg (giảm từ 3.000-4.000 đg/kg so với bình quân tháng 8). Tại miền Bắc, giá trứng gia cầm theo xu hướng tăng nhẹ so với tháng 8/2017, giá trứng vịt dao động từ 21.000-23.0000 đồng/1 chục, giá trứng gà bình quân 18.000-20.000 đg/1 chục; trong khi đó tại miền Nam giá trứng vịt dao động từ 20.000-21.000 đg/1 chục (giảm nhẹ so với tháng 8) còn giá trứng gà loại tốt dao động ổn định quanh mức 15.000-16.500 đg/1 chục.

     

    Thị trường tiêu thụ và giá một số sản phẩm khác không có nhiều biến động, giá gà giống tại cả 2 miền ổn định quanh mức 7.000-8.000 đg/con).

     

    Thị trường nguyên liệu và sản phẩm thức ăn chăn nuôi:

     

    Sản xuất thức ăn chăn nuôi: hiện tại, nước ta có 218 cơ sở sản xuất TĂCN công nghiệp, với tổng công suất thiết kế trên 31 triệu tấn, cao hơn nhu cầu TĂCN công nghiệp năm 2020 (25 triệu tấn). Sản lượng TĂCN gia súc, gia cầm công nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2017 ước giảm 5-10% so với cùng kỳ 2016.

     

    Giá thị trường so với tháng 8/2017, trong tháng 9/2017 giá của một số nguyên liệu giảm như: sắn lát 4.200 đ/kg (giảm 2,3%), cám gạo 5.000 đ/kg (giảm 7,4%); giá một số nguyên liệu theo xu hướng tăng như: ngô 5.000 đ/kg (tăng 1,0%), bột cá 27.500 đ/kg (tăng 1,9%); giá một số nguyên liệu khác không thay đổi khô dầu đậu tương 8.700 đ/kg, methionine là 70.000 đ/kg và giá lysine 37.000 đ/kg. Giá thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh theo xu hướng giảm, cụ thể: TAHH cho gà thịt 8.950 đ/kg (giảm 2,7%), TAHH cho lợn thịt 60kg đến xuất chuồng 7.800 đ/kg (giảm 2,5%).

     

    Nguồn: Chăn nuôi Việt Nam

    Để lại comment của bạn

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.

    • Công ty Thực phẩm Thái Bình, một đơn vị thuộc Công ty cổ phần ĐTK Việt Nam

    • Hiện nay ở Việt Nam, nghề nuôi thỏ bắt đầu phát triển mạnh, nên nhu cầu về con giống cũng tăng cao.

    • Nuôi nhím cảnh không còn là nghề mới lạ ở Việt Nam nhưng nó vẫn giúp nhiều hộ chăn nuôi kiếm tiền triệu mỗi tháng

    • Hiện nay, thịt lợn hữu cơ đang là xu hướng mới của người tiêu dùng Việt Nam

    • Thịt đà điểu được coi là "thịt sạch của thế kỷ 21"

    • Những loài gia cầm, thủy cầm đặc sản có đặc điểm là ngoại hình có những nét rất đặc biệt, thịt của các loài này có chất lượng và mùi vị ngon hơn những giống loài khác.

    • Ở Việt Nam, gà Lôi đã được nuôi từ rất lâu nhưng những hiểu biết và đầu tư cho chăn nuôi gà Lôi ở nước ta chủ yếu theo lối chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chưa cao.

    • Gà Quý Phi là giống gà quý, rất thích hợp với khí hậu Việt Nam, được nuôi để lấy thịt, vừa có thể làm cảnh...