• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 43.000 - 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 45.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Ninh Bình 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc từ 50.000 - 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 35.000 – 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị 38.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Thuận từ 40.000 - 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 32.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh từ 27.000 - 28.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long từ 39.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tây Ninh, Đồng Tháp, Long An từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    •  
  • Triển vọng giá thức ăn chăn nuôi heo năm 2019

    Báo cáo các dự án trồng trọt của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) – NASS cho thấy diện tích ngô trồng phục vụ cho nhiều mục đích ước tăng 4% so với năm ngoái lên khoảng 92,8 triệu mẫu Anh.

     

    Trong khi đó, diện tích đậu nành ước tính ở mức 84,6 triệu mẫu, giảm 5% so với cùng kì năm ngoái. Mặc dù những ước tính này có thể sớm thay đổi khi vụ mùa bắt đầu nhưng nó quan trọng để đánh giá tương quan của các loại ngũ cốc này so với chi phí thức ăn chăn nuôi, và hơn hết là để tìm ra triển vọng về chi phí thức ăn chăn nuôi trong phần còn lại của năm nay.

     

    Bài viết này xem xét xu hướng chi phí thức ăn cũng như tác động của giá bột ngô và đậu nành đến chi phí thức ăn cho các hoạt động chăn nuôi heo. Điều quan trọng cần lưu ý là doanh nghiệp chăn nuôi heo khép kín được đề cập trong bài viết này được giả định đã hoàn tất chu trình sử dụng heo cai sữa sớm.

     

    Nguyên liệu dành cho các doanh nghiệp chăn nuôi heo khép kín gồm ngô, bột đậu nành, bã ngũ cốc sấy khô, cũng như các chất bổ sung.

     

    Giá ngô đại diện dựa mức giá trung bình của bang Indiana như báo cáo của USDA – NASS. Trong khi đó giá bột đậu nành và bã ngũ cốc được đánh giá từ số liệu nguồn của Feed Outlook được USDA – ERS báo cáo hàng tháng.

     

    Những thông tin từ thông cáo Agricultural Prices, được USDA – NASS xuất bản hàng tháng, dùng để tính toán giá thành các chất bổ sung.

     

    Giá ngô và bột đậu nành giao đầu tháng 4 được dùng làm cơ sở để dự báo giá trong suốt năm 2019. Các chỉ số chi phí thức ăn được báo cáo vào phiên tháng đóng cửa thay vì dựa trên cơ sở tháng.

     

    Giá ngô và đậu nành

     

    Biểu đồ 1 và 2 cho thấy giá ngô và đậu nành hàng tháng trong giai đoạn tháng 1/2000 – tháng 3/2019. Trong đó khác biệt lớn nhất có thể nhận thấy là giá trước và sau năm 2007, giai đoạn bắt đầu từ năm 2007 được xem điểm khởi đầu của một chế độ giá mới.

     

    Trong năm 2000 – 2006, giá ngô trung bình ở mức 2,18 USD/giạ; và 4,56 USD/giạ từ năm 2007 đến hiện tại. Giá bột đậu nành trung bình ở mức 187 USD/tấn trong năm 2000 – 2006 và tăng lên mức 355 USD/tấn từ năm 2007 đến hiện tại.

     

    Giá ngô tăng trên mức 4,56 USD từ tháng 2 năm 2008 đến tháng 9 năm 2008, từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 9 năm 2013 và từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 6 năm 2014. Kể từ tháng 7 năm 2014, giá ngô đã xuống dưới mức 4,56 USD mỗi giạ.

     

    Trong khi đó giá bột đậu nành ở mức trên 355 USD/tấn vào các giai đoạn, gồm tháng 6 và tháng 7/2008, tháng 5/2009 – 9/2009, vào tháng 1 và tháng 2/2011, tháng 3/2012 – 3/2015, vào tháng 7 và tháng 8/2015, tháng 5 – 7/2016, và tháng 2/2018 – 5/2018.

     

    Đồng thời giá ngô và đậu nành dự kiến sẽ vẫn ở dưới mức trung bình kể từ năm 2007 cho đến hết năm nay.

    Gía ngô Indiana hàng tháng, giai đoạn 2000 – 2019.

    Triển vọng giá thức ăn chăn nuôi heo năm 2019

    Giá bột đậu nành tại trung tâm Illinois hàng tháng, giai đoạn 2000 – 2019.

     

    Các doanh nghiệp chăn nuôi heo khép kín

     

    Biểu đồ 3 cho thấy các chỉ số chi phí thức ăn trong một vòng đời khép kín hàng tháng trong giai đoạn tháng 1/2000 – 3/2019. Số liệu đầy đủ mới nhất của năm 2018 có mức chỉ số là 100 nên tất cả chỉ số ngoài năm này đều được thể hiện ở mức tương đối.

     

    Tương tự như giá ngô và đậu nành, giá thành trước và sau năm 2007 có khác biệt rất lớn. Chỉ số trung bình giai đoạn năm 2000 – 2006 vào khoảng 58 trong khi chỉ số trung bình kể từ đầu năm 2007 là khoảng 115.

     

    Chỉ số cho tháng 3/2019 là 98, do đó chi phí thức ăn hiện tại thấp hơn 2% so với mức trung bình của năm 2018. Những dự báo cũng cho thấy chỉ số sẽ rơi vào khung 98 – 100 trong những tháng còn lại của năm 2019.

    Chỉ số chi phí thức ăn chăn nuôi trong chăn nuôi khép kín hàng tháng, giai đoạn 2000 – 2019.

     

    Chỉ số chi phí thức ăn chăn nuôi khép kín hàng năm được minh họa trong biểu đồ 4. Trong đó dự báo năm 2019 (thanh màu đỏ) sử dụng giá ngô và giá đậu nành trong phiên đầu tháng 4 làm cơ sở. Và chỉ số chi phí thức ăn dự kiến cho năm 2019 là 99.

    Chỉ số chi phí thức ăn chăn nuôi khép kín hàng năm, giai đoạn 2000 – 2019.

     

    Các doanh nghiệp chăn nuôi heo giống

     

    Biểu đồ 5 minh họa các chỉ số chi phí thức ăn cho chăn nuôi heo giống hàng tháng trong giai đoạn tháng 1/2000 – 3/2019. Số liệu đầy đủ mới nhất của năm 2018 có mức chỉ số là 100 nên tất cả chỉ số ngoài năm này đều được thể hiện ở mức tương đối.

     

    Chỉ số trung bình cho giai đoạn 2000 – 2006 là 57 trong khi chỉ số trung bình cho giai đoạn đầu năm 2007 là 112. Chỉ số cho tháng 3/2019 là 98, do đó chi phí thức ăn hiện tại thấp hơn 2% so với mức trung bình của năm 2018. Những dự báo cũng cho thấy chỉ số sẽ rơi vào khung 98 – 100 trong những tháng còn lại của năm 2019.

    Chỉ số chi phí thức ăn chăn nuôi heo khép kín hàng tháng, giai đoạn 2000 – 2019.

     

    Các chỉ số chi phí thức ăn cho heo giống hàng năm được minh họa trong Biểu đồ 6. Trong đó dự báo cho năm 2019 (thanh màu đỏ) sử dụng dự báo trong phiên đầu tháng 4 làm cơ sở. Chỉ số chi phí thức ăn dự kiến là 99. Do đó, chi phí thức ăn cho heo giống cho năm 2019 dự kiến sẽ rất giống với năm 2018.

    Chỉ số chi phí thức ăn chăn nuôi heo khíp kín hàng năm, giai đoạn 2000 – 2019.

     

    Thông qua công cụ phân phối giá iFarm, xác suất giá ngô ước tính cho tháng 12/2019 ở dưới mức 3,47 USD (hoặc trên 4,26 USD) là 25% so với ngày 9/4, chênh lệch gần 0,8 USD mỗi giạ.

     

    Qua đó có thể thấy, chi phí thức ăn rất nhạy cảm với những thay đổi tương quan về giá ngô và đậu nành.

     

    Phân tích hồi quy đã được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí thức ăn cho heo giống và giá bột ngô và đậu nành trong khoảng thời gian tháng 1/2007 – 12/2018.

     

    Kết quả như sau: Mỗi lần giá ngô tăng 0,10 USD thì chi phí thức ăn trên mỗi tạ tăng 0,44 USD, và mỗi lần giá bột đậu nành tăng 10 USD thì chi phí thức ăn trên mỗi tạ tăng 0,32 USD. Rõ ràng, giá ngô tăng hoặc giảm 0,40 USD sẽ tác động lớn đến chi phí thức ăn trên mỗi tạ.

     

    Chi phí thức ăn hiện tại là khoảng 30,75 USD/tạ.

     

    Bảng 1 bên dưới minh họa chi phí thức ăn tương quan trên mỗi tạ khi giá ngô dao động trong khoảng 3,25 USD – 4,25 USD/giạ, và giá bột đậu nành dao động 250 – 350 USD/tấn. Với phạm vi giá thấp hơn, chi phí thức ăn cho mỗi tạ sẽ vào khoảng 26,25 USD. Với phạm vi giá cao hơn, chi phí thức ăn cho mỗi tạ sẽ là khoảng 33,75 USD.

    Kết luận:

     

    Bài viết này đề cập và thảo luận các xu hướng gần đây của chi phí thức ăn cho các doanh nghiệp chăn nuôi heo và đưa ra các dự đoán giá trong năm 2019. Chi phí thức ăn trong năm nay dự kiến sẽ tương tự như năm 2018.

     

    Bài viết cũng đã xem xét tác động của những thay đổi trong ngô và đậu nành so với giá chi phí thức ăn cho heo giống.

     

    Trong đó khi giá ngô thay đổi 0,10 USD mỗi giạ thì chi phí thức ăn cũng thay đổi 0,44 USD/tạ. Tương tự, mỗi thay đổi khoảng 10 USD trên mỗi tấn của giá đậu nành khiến chi phí thức ăn thay đổi 0,32 USD/tạ.

     

    Cẩm Tiên (Theo KT&TD)

    Nguồn: VietnamBiz

     

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

     

     

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.