• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 66.000 - 73.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 73.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Nguyên 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Thái Bình 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 58.000 – 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Tĩnh 65.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Thanh Hóa 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Định, Khánh Hòa 59.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 57.000 - 65.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 65.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tây Ninh, Củ Chi 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cần Thơ 63.000 đ/kg
    •  
  • Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 9 tháng năm 2019 giảm

    Tháng 9/2019, kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu tiếp tục sụt giảm so với tháng 8/2019, giảm 20,2% tương ứng với 50,7 triệu USD – đây là tháng giảm thứ hai liên tiếp. Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 516,41 triệu USD, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm 2018. Về thị trường xuất khẩu, là thị trường có vị trí địa lý không xa so với các quốc gia khác, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, Trung Quốc đại lục trở thành thị trường xuất khẩu chủ lực mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam.

    Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 9 tháng năm 2019 giảm

    9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đại lục chiếm 27,6% tỷ trọng đạt 142,63 triệu USD, tuy nhiên tốc độ xuất sang thị trường này lại sụt giảm 17,11% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2019 kim ngạch cũng sụt giảm 45,47% so với tháng 8/2019 và giảm 44,07% so với tháng 9/2018 tương ứng với 9,11 triệu USD.

     

    Đứng thứ hai là thị trường Campuchia, chiếm 14,39% tỷ trọng đạt 74,36 triệu USD, tăng 6,45% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2019 đã xuất sang Campuchia 9,61 triệu USD, tăng 9,12% so với tháng 8/2019 nhưng giảm 3,96% so với tháng 9/2018.
    Kế đến là các nước Malasyia, Ấn Độ và Mỹ đạt tương ứng 56,28 triêu USD; 49,4 triệu USD và 30,77 triệu USD tăng lần lượt 6,45%; 10,92% và giảm 11,13%.

     

    Ngoài những thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu sang các nước khác như Đài Loan (TQ), Indonesia, Malaysia…
    Nhìn chung, 9 tháng đầu năm nay xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sang các thị trường hầu hết đều tăng trưởng. Đặc biệt, thời gian này Nhật Bản tăng mạnh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Việt Nam, tuy kim ngạch chỉ đạt 26,98 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng vượt trội 22,94%, riêng tháng 9/2019 cũng đã xuất sang Nhật Bản 2,62 triệu USD, tăng 6,28% so với tháng 8/2019 và tăng 0,84% so với tháng 9/2018.

     

    Ngược lại, Thái Lan giảm mạnh nhập từ Việt Nam nhóm hàng này, giảm 26,53% tương ứng với 16,37 triệu USD, riêng tháng 9/2019 Thái Lan đã nhập từ Việt nam 1,24 triệu USD, tăng 16,58% so với tháng 8/2019 nhưng giảm 11,92% so với tháng 9/2019.

     

    Thị trường xuất khẩu thức chăn nuôi  và nguyên liệu 9 tháng năm 2019
    Thị trường Tháng 9/2019 (USD) +/- so với tháng 8/2019 (%)* 9 tháng năm 2019 (USD) +/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*
    Trung Quốc 9.112.700 -45,47 142.634.868 -17,11
    Campuchia 9.615.990 9,12 74.363.079 6,45
    Malaysia 6.918.459 -5,77 56.288.481 10,92
    Ấn Độ 3.418.579 -19,73 49.495.195 -11,13
    Mỹ 4.535.903 -5,64 30.779.932 2,35
    Nhật Bản 2.621.651 6,28 26.984.172 22,94
    Đài Loan 2.248.781 -19,44 20.478.957 -10,19
    Philippines 2.247.530 -6,4 18.388.461 7,43
    Hàn Quốc 1.632.967 -49,76 17.479.450 -24,38
    Thái Lan 1.242.938 16,58 16.377.206 -26,53
    Bangladesh 281.833 18,32 10.548.028 5,16
    Indonesia 786.745 -62,1 9.518.294 4,96
    Singapore 278.469 -2,27 2.485.691 -3,99

    (*Tính toán số liệu từ TCHQ)

     

    Về tình hình sản xuất, theo số liệu từ TCTK thức ăn cho gia súc tháng 9/2019 ước đạt 1,03 triệu tấn, tăng 2,2% so với tháng 9/2018 và tăng 1,3% so với tháng 8/2019. Nâng lượng thức ăn cho gia súc 9 tháng năm 2019 lên 9,4 triệu tấn, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.

     

    Cũng theo Tổng cục Thống kê, thức ăn cho thủy sản trong tháng 9/2019 ước đạt 604,4 nghìn tấn, tăng 0,2% so với tháng 8/2019 và tăng 14,8% so với tháng 9/2018. Nâng lượng thức ăn cho thủy sản 9 tháng năm 2019 lên 5,15 triệu tấn, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước.

     

    Hương Nguyễn

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.