TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Bio-Lacto trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế của gà H’Mông nuôi thịt. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức: lô đối chứng (không bổ sung chế phẩm) và lô thí nghiệm bổ sung Bio-Lacto ở mức 2 g/kg thức ăn, mỗi nghiệm thức gồm 300 con, lặp lại 3 lần, tổng số 600 con gà nuôi từ 1 ngày tuổi đến 14TT. Kết quả cho thấy, bổ sung Bio-Lacto làm tăng tỷ lệ nuôi sống của gà (94,7% so với 89,0%; P<0,05), tăng khối lượng cơ thể cuối kỳ (1.453,71g so với 1.315,10g; P<0,05), đồng thời làm giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (2,77 so với 3,11 kg; P<0,05). Hiệu quả kinh tế của lô thí nghiệm cao hơn 2.337.760 đồng so với lô đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bổ sung chế phẩm Bio-Lacto có khả năng cải thiện sinh trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và gia tăng lợi nhuận trong chăn nuôi gà H’Mông.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi gia cầm nói chung và gà nói riêng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, góp phần cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và tạo sinh kế cho người dân. Trong đó, gà H’Mông là giống gà bản địa có giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp với hình thức nuôi bán chăn thả và điều kiện sinh thái vùng miền núi. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi hiện nay chủ yếu vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, tận dụng thức ăn sẵn có, điều kiện vệ sinh thú y còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh cao và hiệu quả chăn nuôi chưa ổn định.
Trong những năm gần đây, việc lạm dụng kháng sinh và chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi đã gây ra nhiều hệ lụy như tồn dư kháng sinh trong sản phẩm, gia tăng tình trạng kháng kháng sinh và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Do đó, xu hướng sử dụng các chế phẩm sinh học, đặc biệt là probiotic, nhằm thay thế kháng sinh trong chăn nuôi đang được quan tâm rộng rãi. Các chế phẩm này được cho là có khả năng cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, từ đó nâng cao năng suất và sức đề kháng của vật nuôi.
Chế phẩm Bio-Lacto là một sản phẩm sinh học được sử dụng trong chăn nuôi với mục đích hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn và nâng cao khả năng sinh trưởng của vật nuôi. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chế phẩm này trên giống gà bản địa, đặc biệt là gà H’Mông trong điều kiện nuôi bán chăn thả, còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Bio-Lacto trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế của gà H’Mông nuôi thịt.

Gà H’Mông là giống gà bản địa có giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp với hình thức nuôi bán chăn thả và điều kiện sinh thái vùng miền núi
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, vật liệu và thời gian
Nghiên cứu được tiến hành trên 600 gà H’Mông nuôi từ 1 ngày tuổi đến 14 tuần tuổi (TT) tại trại chăn nuôi gà phường Văn Phú, tỉnh Lào Cai, từ tháng 5/2025 đến tháng 11/2025.
Chế phẩm sử dụng trong thí nghiệm (TN) là Bio-Lacto (Công ty Cổ phần Daeyong Việt Nam), được bổ sung trực tiếp vào khẩu phần ăn của gà theo mức 2 g/kg thức ăn (TA). Chế phẩm Bio-Lacto chứa các vi sinh vật có lợi, trong đó Bacillus spp. (≥2×10⁸ CFU/g) và Lactobacillus spp. (≥5×10⁶ CFU/g) là các thành phần chính, kết hợp với vitamin B₁ và B₃ góp phần hỗ trợ tiêu hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng TA ở vật nuôi.
2.2. Phương pháp
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức (NT): Lô đối chứng (ĐC): sử dụng khẩu phần cơ sở, không bổ sung chế phẩm; Lô TN: khẩu phần cơ sở bổ sung Bio-Lacto ở mức 2 g/kg TA. Mỗi NT gồm 300 con, 3 lần lặp, mỗi lần lặp 100 con. Tổng số gà TN là 600 con. Thời gian TN kéo dài 14 tuần.
Gà được nuôi trong chuồng thông thoáng tự nhiên, sử dụng chất độn chuồng bằng trấu trong giai đoạn (GĐ) 1-4TT; từ sau 4TT, gà được nuôi theo hình thức bán chăn thả. Các điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng, khẩu phần ăn và phòng trị bệnh được đảm bảo đồng đều giữa các NT.
2.2.2. Theo dõi và xác định các chỉ tiêu
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỷ lệ nuôi sống (TLNS) được xác định bằng phương pháp đếm trực tiếp số lượng gà sống qua các tuần nuôi; khối lượng cơ thể (KL) gà được cân tại thời điểm 1 ngày tuổi (NT) và định kỳ hàng tuần đến 14TT; sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối được tính toán dựa trên KL qua các GĐ nuôi; hiệu quả sử dụng TA được xác định thông qua tiêu tốn TA/kg TKL (FCR).
Trong mỗi lần cân, lấy ngẫu nhiên 30% số gà trong mỗi lô, được cân riêng từng cá thể vào buổi sáng trước khi cho ăn nhằm giảm sai số do lượng thức ăn trong đường tiêu hóa. Dụng cụ cân sử dụng gồm: cân kỹ thuật (độ chính xác 0,05g) đối với gà 1NT; cân đồng hồ loại 2kg cho GĐ 1-8TT; cân đồng hồ loại 5kg cho GĐ 9-14TT.
2.3. Xử lý số liệu
Bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Minitab 16.0 và kết quả được biểu thị bằng Mean±SE.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Bio-Lacto đến tỷ lệ nuôi sống
Kết quả theo dõi TLNS của gà H’Mông được trình bày ở bảng 1 cho thấy gà ở cả hai NT tương đối cao và có xu hướng tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, TLNS của lô TN luôn cao hơn so với lô ĐC trong hầu hết các GĐ nuôi. Tỷ lệ nuôi sống của lô TN đạt 94,7%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô ĐC (89,0%) (P<0,05). Sự cải thiện này có thể liên quan đến tác động của chế phẩm Bio-Lacto trong việc cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, từ đó hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Kết quả nghiên cứu này tương đương với công bố của Nguyễn Thị Thanh Hải và ctv (2018), nhưng thấp hơn so với của Đặng Hồng Quyên và ctv (2022). Sự khác biệt này có thể do điều kiện nuôi dưỡng, giống gà và thành phần chế phẩm sử dụng trong các nghiên cứu khác nhau.
Bảng 1. Tỷ lệ nuôi sống của gà H’Mông
|
Tuổi (tuần) |
TN – Đầu kỳ (con) |
TN – TLNS (%) |
ĐC – Đầu kỳ (con) |
ĐC – TLNS (%) |
|
1-2 |
300 |
99,00 |
300 |
98,67 |
|
2-3 |
297 |
97,98 |
296 |
98,31 |
|
3-4 |
291 |
97,59 |
291 |
97,94 |
|
4-5 |
285 |
98,25 |
285 |
99,65 |
|
5-6 |
285 |
100,00 |
284 |
100 |
|
6-7 |
285 |
100,00 |
284 |
98,94 |
|
7-8 |
285 |
100,00 |
281 |
100,00 |
|
8-9 |
285 |
100,00 |
281 |
100,00 |
|
9-10 |
285 |
99,65 |
281 |
97,87 |
|
10-11 |
284 |
100,00 |
275 |
100,00 |
|
11-12 |
284 |
100,00 |
275 |
97,09 |
|
12-14 |
284 |
100,00 |
267 |
100,00 |
|
Cả kỳ |
94,7a |
89,0b |
Ghi chú: Theo hàng ngang các giá trị Mean mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Bio-Lacto đến khả năng sinh trưởng
3.2.1. Sinh trưởng tích lũy
Khối lượng cơ thể gà H’Mông qua các TT được trình bày ở bảng 2 cho thấy ở hai NT tăng dần theo thời gian nuôi, phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia cầm. Trong giai đoạn đầu (1–3TT), sự sai khác về KL giữa hai NT chưa rõ rệt (P>0,05). Tuy nhiên, từ TT thứ 4 trở đi, KL gà ở lô TN bắt đầu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô ĐC (P<0,05) và xu hướng này được duy trì đến cuối TN.
Tại 14TT, KL gà ở lô TN đạt 1.453,71 g/con, cao hơn 10,5% so với lô ĐC (1315,10 g/con). Kết quả này cho thấy việc bổ sung Bio-Lacto có tác dụng cải thiện sinh trưởng của gà. Sự gia tăng KL có thể được giải thích do chế phẩm Bio-Lacto góp phần cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, đồng thời kích thích hoạt động của các enzyme tiêu hóa. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây (Oleforuh và ctv, 2014; Đặng Hồng Quyên và ctv, 2022; Nguyễn Văn Lưu và ctv, 2023).
Bảng 2. Khối lượng gà theo tuổi (Mean±SE, g)
|
Tuổi (tuần) |
Lô TN (n=90) |
Lô ĐC (n=90) |
|
1 NT |
28,67±0,50 |
28,74±0,61 |
|
1 |
76,71±1,37 |
75,38±1,55 |
|
2 |
137,52±4,34 |
132,62±2,82 |
|
3 |
204,14±8,16 |
192,00±4,31 |
|
4 |
288,19a±7,39 |
267,24b±6,37 |
|
5 |
390,62a±13,34 |
360,43b±9,94 |
|
6 |
499,76a±13,79 |
459,52b±10,49 |
|
7 |
623,00a±15,69 |
573,86b±10,04 |
|
8 |
750,24a±15,22 |
688,05b±12,69 |
|
9 |
885,33a±11,27 |
808,10b±9,11 |
|
10 |
1028,05a±12,22 |
930,14b±8,84 |
|
11 |
1148,90a±14,29 |
1032,38b±8,38 |
|
12 |
1258,52a±9,11 |
1132,67b±7,73 |
|
13 |
1359,52a±11,31 |
1227,48b±9,96 |
|
14 |
1453,71a±14,97 |
1315,10b±11,95 |
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối
Bảng 3. Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
|
Tuổi (tuần) |
TN (n=90) |
ĐC (n=90) |
|
1NT-1 |
6,86±0,22 |
6,66±0,26 |
|
1-2 |
8,69±0,38 |
8,18±0,42 |
|
2-3 |
9,52±0,51 |
8,48±0,68 |
|
3-4 |
12,01±1,14 |
10,75±1,54 |
|
4-5 |
14,63±1,45 |
13,31±1,82 |
|
5-6 |
15,59±2,05 |
14,16±2,73 |
|
6-7 |
17,61±2,40 |
16,33±2,96 |
|
7-8 |
18,18±2,65 |
16,31±2,99 |
|
8-9 |
19,30±2,98 |
17,15±3,12 |
|
9-10 |
20,39±3,24 |
17,43±3,60 |
|
10-11 |
17,26±3,90 |
14,61±4,16 |
|
11-12 |
15,66±3,65 |
14,33±4,23 |
|
12-13 |
14,43±2,95 |
13,54±3,18 |
|
13-14 |
13,46±2,20 |
12,52±3,10 |
|
TB |
14,54±2,12 |
13,13±2,44 |
Kết quả ở bảng 3 cho thấy sinh trưởng tuyệt đối của gà ở cả hai NT tăng dần theo TT và đạt cao nhất ở GĐ 9-10TT, sau đó giảm dần ở GĐ cuối. Quy luật này phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của gia cầm, khi tốc độ sinh trưởng đạt cực đại ở giai đoạn giữa chu kỳ nuôi. Trung bình cả giai đoạn, sinh trưởng tuyệt đối của lô TN đạt 14,54 g/con/ngày, cao hơn so với ĐC (13,13 g/con/ngày). Kết quả này cho thấy việc bổ sung Bio-Lacto đã cải thiện tốc độ sinh trưởng của gà. Sự cải thiện này có thể liên quan đến việc tăng cường hấp thu dinh dưỡng và tối ưu hóa quá trình chuyển hóa năng lượng trong cơ thể vật nuôi khi bổ sung chế phẩm sinh học. Đặng Hồng Quyên và ctv (2022), Nguyễn Văn Lưu và ctv (2023) cho biết, việc bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn của gà đã làm tăng khả năng sinh trưởng ở gà.
3.2.3. Sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tương đối của gà ở cả hai nghiệm thức có xu hướng giảm dần theo tuổi, phản ánh quy luật sinh trưởng tự nhiên của vật nuôi. Không có sự sai khác rõ rệt giữa hai nghiệm thức về chỉ tiêu này. Tuy nhiên, giá trị sinh trưởng tương đối trung bình của lô thí nghiệm (28,71%) vẫn cao hơn so với lô đối chứng (28,10%), cho thấy xu hướng tích cực khi bổ sung chế phẩm Bio-Lacto.
Bảng 4. Sinh trưởng tương đối (%)
|
Tuổi (tuần) |
TN (n=90) |
ĐC (n=90) |
|
1NT-1 |
89,05±1,95 |
89,24±2,30 |
|
1-2 |
53,57±2,39 |
54,82±2,43 |
|
2-3 |
38,22±2,78 |
36,42±2,43 |
|
3-4 |
36,93±1,98 |
32,64±1,78 |
|
4-5 |
34,40±3,83 |
29,42±2,34 |
|
5-6 |
24,48±1,70 |
24,40±1,01 |
|
6-7 |
20,62±1,72 |
22,31±1,38 |
|
7-8 |
17,39±2,13 |
18,04±1,53 |
|
8-9 |
16,56±1,00 |
16,25±1,38 |
|
9-10 |
14,38±1,02 |
14,08±0,50 |
|
10-11 |
10,87±0,66 |
10,44±0,54 |
|
11-12 |
9,41±0,63 |
9,28±0,55 |
|
12-13 |
7,38±0,59 |
8,01±0,60 |
|
13-14 |
6,32±0,66 |
6,87±0,39 |
|
TB |
28,71±1,51 |
28,10±1,91 |
3.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn
Kết quả ở Bảng 5 cho thấy tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà tăng dần theo TT ở cả hai nghiệm thức. Tuy nhiên, lô thí nghiệm luôn có giá trị tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với lô đối chứng. Trung bình cả giai đoạn, tiêu tốn thức ăn của lô thí nghiệm là 2,77 kg/kg tăng khối lượng, thấp hơn 10,9% so với lô đối chứng (3,11 kg/kg) (P<0,05). Điều này cho thấy việc bổ sung Bio-Lacto giúp cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn. Nguyên nhân có thể do chế phẩm sinh học giúp cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, tăng cường hoạt tính enzyme tiêu hóa, từ đó nâng cao khả năng sử dụng thức ăn. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây (Trần Đức Hoàn và ctv, 2020; Jadhav và ctv, 2015; Nguyễn Văn Lưu và ctv, 2023; Đặng Hồng Quyên và ctv, 2022; Nguyễn Thị Thanh Hải và ctv, 2018; Đoàn Phương Thúy và ctv, 2019; Trần Anh Tuyên và ctv, 2019).
Bảng 5. Tiêu tốn thức ăn (kg)
|
Tuổi (tuần) |
TN (n=3) |
ĐC (n=3) |
|
1 |
1,63±0,01 |
1,68±0,02 |
|
2 |
2,03±0,02 |
2,17±0,03 |
|
3 |
2,47±0,01 |
2,77±0,01 |
|
4 |
3,03±0,01 |
3,38±0,01 |
|
5 |
2,96±0,01 |
3,40±0,13 |
|
6 |
2,06±0,01 |
3,20±0,01 |
|
7 |
3,20±0,02 |
3,78±0,03 |
|
8 |
2,79±0,01 |
4,16±0,03 |
|
9 |
2,97±0,01 |
3,14±0,02 |
|
10 |
3,24±0,02 |
3,06±0,07 |
|
11 |
3,08±0,01 |
3,26±0,10 |
|
12 |
3,23±0,01 |
3,18±0,05 |
|
13 |
3,15±0,02 |
3,07±0,04 |
|
14 |
2,91±0,01 |
3,24±0,07 |
|
1-14 |
2,77a±0,30 |
3,11b±0,26 |
3.4. Hiệu quả kinh tế của bổ sung chế phẩm
Kết quả hạch toán kinh tế cho thấy tổng chi phí của lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng do bổ sung thêm chi phí chế phẩm. Tuy nhiên, tổng thu của lô thí nghiệm cao hơn đáng kể nhờ khối lượng gà lớn hơn và tỷ lệ nuôi sống cao hơn. Lợi nhuận thu được ở lô thí nghiệm đạt 6.785.160 đồng, cao hơn 2.337.760 đồng so với lô đối chứng. Điều này chứng tỏ việc bổ sung chế phẩm Bio-Lacto mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Bảng 6. Hiệu quả bổ sung CP Bio-Lacto
|
Diễn giải |
TN |
ĐC |
|
1. Phần chi |
26.227.000 |
23.641.000 |
|
Chi phí giống (đ) |
6.000.000 |
6.000.000 |
|
Chi phí thức ăn (đ) |
18.337.000 |
15.191.000 |
|
Chi phí thuốc thú y (đ) |
1.890.000 |
2.450.000 |
|
Chi phí chế phẩm (đ) |
680.000 |
0 |
|
Chi phí vật liệu (đ) |
1.500.000 |
1.500.000 |
|
2. Phần thu |
33.012.160 |
28.088.400 |
|
Tổng KL cuối kỳ (kg) |
412,65 |
351,11 |
|
Giá bán gà (đ/kg) |
80.000 |
80.000 |
|
3. Cân đối thu – chi |
6.785.160 |
4.447.400 |
|
So sánh (đ) |
2.337.760 |
Kết quả này phù hợp với nhận định của Jadhav và ctv (2015) khi cho rằng việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gia cầm có thể làm tăng lợi nhuận nhờ cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm tỷ lệ hao hụt; Đặng Hồng Quyên và ctv (2022) bổ sung chế phẩm thảo dược làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà.
4. KẾT LUẬN
Việc bổ sung chế phẩm Bio-Lacto vào khẩu phần ăn của gà H’Mông với mức 2 g/kg TA đã có tác động tích cực đến các chỉ tiêu sản xuất. Cụ thể, chế phẩm giúp nâng cao tỷ lệ nuôi sống, cải thiện khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng của gà, đồng thời làm giảm TTTA/kg TKL.
Bên cạnh đó, việc sử dụng chế phẩm Bio-Lacto còn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà H’Mông, thể hiện qua lợi nhuận thu được cao hơn so với lô đối chứng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chế phẩm Bio-Lacto có tiềm năng ứng dụng trong chăn nuôi gà H’Mông theo hướng nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
Nguyễn Văn Lưu¹*, Phạm Quốc Duy¹, Dương Thị Toan¹ và Đặng Hồng Quyên¹
¹ Trường Đại học Nông-Lâm Bắc Giang
Xem thêm:
Hợp tác xã nuôi nhiều gà H’Mông nhất Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Thanh Hải, Đoàn Văn Soạn, Phạm Thanh Hà và Đỗ Thị Thu Hường (2018). Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm dược liệu Ji Kang Ning đến sinh trưởng và khả năng kháng bệnh của gà thịt. Tạp chí KHKT Thú y, XXV(6): 83-88.
2. Trần Đức Hoàn, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Văn Lưu và Nguyễn Thị Khánh Linh (2020). Hiệu quả của chế phẩm Lactozym trong sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt ở gà. Tạp chí Khoa học công nghệ chăn nuôi, 110(00): 41-54.
3. Jadhav K., Sharma K.S., Katoch S., Sharma V.K. and Mane B.G. (2015). Probiotics in broiler Poultry feeds: A Rev. J. Ani. Nut. Physiol., 1: 4-16.
4. Nguyễn Văn Lưu, Vũ Thị Hiền, Dương Thị Toan, Trần Thị Tám và Ngô Thành Vinh (2023). Ảnh hưởng của chế phẩm HN-HEPA đến sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (Mía x Lương Phượng). Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 293: 45-50.
5. Oleforuh V.U., Chukwu G.C. and Adeolu A.I. (2014). Effect of ground ginger and garlic on the growth performance, carcass quality and economics of production of broiler chickens, C.J.B.B., 3(3): 225-229.
6. Đặng Hồng Quyên, Tô Hữu Cường và Nguyễn Thị Thanh Hải (2022). Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm nano thảo dược đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (Mía x Lương Phượng). Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 283(1): 49-55.
7. Đoàn Phương Thúy, Lê Thị Bích, Dương Thị Vi và Đoàn Văn Soạn (2019). Ảnh hưởng của việc bổ sung ACTISAP® SC 47 STD vào khẩu phần ăn của gà Ác từ 0 đến 9TT. Tạp chí KHCN Chăn nuôi, 97: 45-52.
8. Trần Anh Tuyên, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Xuân Việt và Hoàng Thị Phương Thúy (2019). Sử dụng chế phẩm probiotic trong chăn nuôi gà thịt. Tạp chí KHCN, Trường Đại học Hùng Vương, 3: 3-9.
- gà h'mong li>
- chế phẩm Bio-Lacto li>
- khả năng sinh trưởng li>
- hiệu quả kinh tế li> ul>
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Phân biệt giới tính phôi gia cầm trong trứng tiến bộ công nghệ hướng tới phúc lợi động vật và sản xuất bền vững
- Gia cầm Việt Nam trước ngưỡng 2027: Không thể mãi cạnh tranh bằng “giá rẻ”
- Thúc đẩy chăn nuôi heo bền vững thông qua công nghệ chọn giống và cải tiến di truyền
- Hoa Kỳ: Kiểm soát an toàn TĂCN nuôi theo mô hình 7 lớp phòng ngừa
- Tỷ lệ Arginine/Lysine cần thiết để cải thiện thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng
- Khai phá tiềm năng: Tryptophan – Giải pháp toàn diện cho năng suất gà đẻ và phúc lợi gà giống
- Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi
- Khả năng sinh sản và phúc lợi động vật của gà Lương Phượng đẻ trứng giống nuôi lồng
- Những thách thức trong chăn nuôi ảnh hưởng đến chất lượng thịt gà
Tin mới nhất
T7,10/10/2026
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
- Giá heo hơi ngày 10/10 giảm còn 51.000 đồng/kg, áp lực thị trường gia tăng
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Khoa Chăn nuôi (VNUA) kỷ niệm 70 năm: Giữ lửa truyền thống, thắp sáng tương lai
- Sinh viên Chăn nuôi – Thú y trước yêu cầu mới của thị trường lao động
- Khoa Thú y (VNUA) 70 năm thành lập: Kết nối thế hệ – Dẫn dắt tương lai
- Đồng Nai khởi tố 2 bị can trong vụ 2.349 con heo chứa chất cấm
- Nữ sinh Việt và dự án “Giải bài toán lao động thủ công trong chăn nuôi bò”
- Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ANOVA Agri ký kết hợp tác giai đoạn 2026–2030
- Giá heo hơi ngày 9/10: Thị trường chạm đáy mới, người nuôi thêm áp lực
- Ngành gia cầm Malaysia: Hướng tới tăng năng lực sản xuất và ứng dụng công nghệ
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng






















Bình luận mới nhất