Trong tháng 7/2026, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục xu hướng giảm so với tháng 6/2026, dao động trong khoảng 62.000-67.000 đồng/kg.
6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam giảm 20% về lượng, nhưng tăng 4,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam tăng 9,6% về lượng và tăng 36,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
THỊ TRƯỜNG THỊT THẾ GIỚI
Tháng 6/2026, chỉ số giá thịt của FAO đạt trung bình 131,0 điểm, tăng 0,5 điểm (tương đương 0,4%) so với tháng 5/2026 và cao hơn 5,0 điểm (tương đương 4,0%) so với cùng kỳ năm trước, thiết lập mức cao kỷ lục mới. Mức tăng này chủ yếu được thúc đẩy bởi giá thịt gia cầm tăng, cùng với sự tăng nhẹ của giá thịt cừu, trong khi giá thịt lợn và thịt bò giảm.
Giá thịt gia cầm quốc tế tăng do giá xuất khẩu của Brasil tăng trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu toàn cầu duy trì ở mức cao, đồng thời nguồn cung trong nước tạm thời giảm sau khi sản lượng được điều chỉnh nhằm ứng phó với tình trạng dư cung trước đó.
Giá thịt cừu thế giới tiếp tục tăng trong tháng 6/2026 nhờ nhu cầu ổn định và nguồn cung xuất khẩu hạn chế.
Ngược lại, giá thịt lợn tiếp tục giảm, chủ yếu do nguồn cung dồi dào tại Liên minh châu Âu (EU) và nhu cầu nhập khẩu từ một số thị trường châu Á vẫn ở mức thấp.
Giá thịt bò giảm nhẹ, chủ yếu do giá xuất khẩu từ Úc đi xuống trong bối cảnh thị trường kỳ vọng nguồn cung xuất khẩu sẽ tăng trong quý III. Trong khi đó, giá xuất khẩu của Brasil nhìn chung vẫn ổn định, khi hạn ngạch nhập khẩu do Trung Quốc áp dụng đã gần được sử dụng hết, khiến tốc độ thu mua dần chậm lại.
Theo báo cáo Food Outlook của FAO, tốc độ tăng trưởng sản lượng thịt toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại trong năm 2026.
Về sản xuất
Sản lượng thịt toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm 2026 nhưng với tốc độ chậm hơn, tăng 1,0% so với năm trước, đạt 391 triệu tấn (quy đổi theo trọng lượng thân thịt). Trong đó, thịt gia cầm sẽ tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng sản lượng thịt toàn cầu, trong khi sản lượng thịt bò và thịt cừu được dự báo sẽ giảm.
Sản lượng thịt lợn toàn cầu dự kiến tăng nhẹ lên 129,5 triệu tấn trong năm 2026, tăng 0,6% so với năm trước.
Tại Trung Quốc, các biện pháp cắt giảm đàn lợn nái dự kiến sẽ được bù đắp nhờ những cải thiện về năng suất, bao gồm số lợn con sơ sinh trên mỗi lứa tăng, giúp duy trì sản lượng ở mức tương đối ổn định.
Sản lượng tại Brasil được dự báo tăng nhờ biên lợi nhuận thuận lợi và nhu cầu nhập khẩu từ thị trường quốc tế duy trì mạnh.
Ngược lại, sản lượng tại Liên minh châu Âu (EU) được dự báo sẽ giảm do chịu tác động của dịch tả lợn châu Phi (ASF) và các hạn chế thương mại liên quan, làm giảm khả năng tiếp cận một số thị trường xuất khẩu quan trọng. Đồng thời, nhu cầu nhập khẩu giảm từ Trung Quốc cũng làm giảm động lực mở rộng sản xuất.
Thương mại
Trong năm 2026, thương mại thịt toàn cầu được dự báo sẽ tăng 1,1% so với năm 2025, đạt 43,9 triệu tấn, chủ yếu nhờ xuất khẩu thịt gia cầm và thịt lợn tăng, trong khi xuất khẩu thịt bò và thịt cừu dự kiến giảm do nguồn cung dành cho xuất khẩu vẫn ở mức hạn chế.
Thương mại thịt lợn toàn cầu được dự báo đạt 10,2 triệu tấn trong năm 2026, tăng 1,2% so với năm trước. Nhu cầu nhập khẩu dự kiến sẽ tăng, chủ yếu nhờ Philippines và Hàn Quốc, nơi các đợt bùng phát ASF tái diễn trong nhiều năm đã làm giảm nguồn cung lợn giết mổ trong nước, qua đó thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu. México cũng được dự báo sẽ tăng nhập khẩu thịt lợn nhờ nhu cầu tiêu thụ trong nước duy trì ở mức cao và xu hướng chuyển sang sử dụng thịt lợn thay thế thịt bò có giá cao. Điều này diễn ra bất chấp việc nước này áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với thịt từ các quốc gia không có hiệp định thương mại ưu đãi với México, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 và được áp dụng trong suốt năm.
Ngược lại, Trung Quốc được dự báo sẽ giảm nhập khẩu thịt lợn nhờ nguồn cung trong nước dồi dào, đồng thời áp dụng thuế chống bán phá giá đối với thịt lợn nhập khẩu từ Liên minh châu Âu, có hiệu lực từ tháng 12/2025, với mức thuế dao động từ 4,9-19,8% trong thời hạn 5 năm.
Ở chiều xuất khẩu, lượng thịt lợn xuất khẩu từ Brasil, Canada và Hoa Kỳ được dự báo sẽ tăng nhờ nguồn cung xuất khẩu dồi dào và năng lực cạnh tranh được cải thiện tại các thị trường châu Á. Xu hướng này càng được củng cố khi EU giảm hiện diện trên thị trường, do các hạn chế liên quan đến ASF và mức thuế cao hơn tại Trung Quốc.
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu thịt gia cầm và thịt lợn của Trung Quốc giảm, trong khi nhập khẩu thịt trâu bò tăng, cụ thể:
+ Thịt trâu, bò: Trong 6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 1,5 triệu tấn thịt trâu, bò (HS 0201; 0202), trị giá 9,15 tỷ USD, tăng 17,5% về lượng và tăng 37,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, chủ yếu nhập khẩu từ các thị trường Brasil, Úc, Argentina, Uruguay, New Zealand, Bolivia, Canada, Nga… Trong đó, lượng thịt trâu bò nhập khẩu của Trung Quốc từ thị trường Brasil, Úc, Argentina tăng mạnh, trong khi nhập khẩu từ các thị trường khác nhìn chung đều giảm so với cùng kỳ năm 2025.
+ Thịt gia cầm: 6 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 305,5 nghìn tấn thịt và phụ phẩm của gia cầm (HS 0207), với trị giá 931,71 triệu USD, giảm 30,5% về lượng và giảm 28,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, trong đó chủ yếu nhập khẩu từ Brasil, Nga, Thái Lan, Chile, Hoa Kỳ… Nhìn chung, Trung Quốc đều giảm nhập khẩu thịt và phụ phẩm gia cầm từ các thị trường trên.
+ Thịt lợn: Lượng thịt lợn nhập khẩu của Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm 28%, trị giá giảm 29,7% so với cùng kỳ năm 2025, với lượng đạt 381,1 nghìn tấn, trị giá 749,08 triệu USD. Các thị trường cung cấp thịt lợn lớn cho Trung Quốc gồm: Tây Ban Nha, Brasil, Anh, Nga, Đan Mạch, Hoa Kỳ, Pháp… Trong đó chỉ có lượng nhập khẩu từ Nga tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025, còn nhập khẩu từ các thị trường khác đều giảm.
THỊ TRƯỜNG THỊT TRONG NƯỚC
Trong tháng 7/2026, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục xu hướng giảm so với tháng 6/2026, dao động trong khoảng 62.000-67.000 đồng/kg. Cụ thể:
Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 65.000-67.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000-3.000 đồng/kg so với tháng 6/2026.
Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 63.000-65.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000-4.000 đồng/kg so với tháng 6/2026.
Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 62.000-64.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá giảm từ 1.000-5.000 đồng/kg, sau tăng nhẹ rồi ổn định so với những ngày cuối tháng 6/2026.
Diễn biến giá lợn hơi trong nước từ đầu tháng 01/2025 đến nay (ĐVT: nghìn đồng)
TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM TRONG QUÝ II/2026
Tình hình xuất khẩu
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, trong quý II/2026, Việt Nam xuất khẩu được 4,6 nghìn tấn thịt và sản phẩm thịt, trị giá 29,4 triệu USD, tăng 1,7% về lượng, nhưng giảm 11,8% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 giảm 25,4% về lượng và giảm 2,3% về trị giá. Thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường thuộc khu vực châu Á, trong đó xuất khẩu trong quý II/2026 sang 2 thị trường Hồng Kông và Trung Quốc là nhiều nhất.
Xuất khẩu tới Trung Quốc chiếm 35,11% về lượng và chiếm 36,95% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, với 1,6 nghìn tấn, trị giá 10,8 triệu USD, tăng 23% về lượng và tăng 18% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 tăng 103,8% về lượng và tăng 315,4% về trị giá.
Xuất khẩu tới thị trường Hồng Kông chiếm 25,11% về lượng và chiếm 31,84% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, với lượng đạt 1,1 nghìn tấn, trị giá 9,3 triệu USD, giảm 37,1% về lượng và giảm 44,6% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 giảm 53,1% về lượng và giảm 45,5% về trị giá.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam (ĐVT: % tính theo trị giá)
Trong quý II/2026, các chủng loại thịt và các sản phẩm từ thịt xuất khẩu chủ yếu gồm: Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là đùi ếch đông lạnh) được xuất khẩu chủ yếu sang Pháp, Bỉ, Hoa Kỳ…; Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh) được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là chân gà đông lạnh) được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc…
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt đạt 9,3 nghìn tấn, trị giá 62,73 triệu USD, giảm 20% về lượng, nhưng tăng 4,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đẩy mạnh xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm thịt. Nhiều sản phẩm gia cầm chế biến chín đã được xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và một số thị trường trong EU. Mới đây, Việt Nam và Hàn Quốc chính thức mở cửa thị trường đối với thịt gà chế biến, tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp hai nước mở rộng hợp tác và thúc đẩy xuất khẩu.
Tình hình nhập khẩu
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong quý II/2026 đạt 271,1 nghìn tấn, trị giá 810,09 triệu USD, tăng 21,5% về lượng và tăng 24,1% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 tăng 14,4% về lượng và tăng 46,9% về trị giá.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam đạt 494,3 nghìn tấn, trị giá 1,46 tỷ USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 36,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong quý II/2026, Ấn Độ, Hoa Kỳ, BraSIL, Úc, Tây Ban Nha là 5 thị trường lớn nhất (tính theo trị giá) cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt cho Việt Nam, nhập khẩu từ các thị trường này đều tăng so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Ấn Độ là thị trường lớn nhất cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt cho Việt Nam với 56,6 nghìn tấn, trị giá 254,27 triệu USD, tăng 9,8% về lượng và tăng 22% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 tăng 40,9% về lượng và tăng 78,3% về trị giá.
Cơ cấu thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt cho Việt Nam (ĐVT: % tính theo lượng)
Trong quý II/2026, thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu chủ yếu là các chủng loại như: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống; Thịt trâu tươi đông lạnh; Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh; Thịt bò tươi đông lạnh… Trong đó, lượng nhập khẩu các chủng loại trên đều tăng so với cùng kỳ năm 2025; Trong khi nhập khẩu phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh và mỡ lợn đông lạnh lại giảm so với cùng kỳ năm 2025.
Trong quý II/2026, Việt Nam nhập khẩu 42,6 nghìn tấn thịt lợn (HS 0203), trị giá 92,81 triệu USD, tăng 68,1% về lượng và tăng 62,2% về trị giá so với quý I/2026; So với quý II/2025 tăng 26,7% về lượng và tăng 2,1% về trị giá. Brasil, Nga, Tây Ban Nha là 3 thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam trong quý II/2026. Tính theo lượng, Tây Ban Nha là thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam với 13,3 nghìn tấn, tăng 31,2%, so với quý I/2026 và cũng tăng mạnh so với quý II/2025. Tiếp đến, Brasil đạt 11,2 nghìn tấn tăng 26,5% so với quý I/2026, và so với quý II/2025 tăng 4,4%. Lượng nhập khẩu từ Nga đạt 10,7 nghìn tấn, tăng 25,3% so với quý I/2026 nhưng giảm 29,7% so với quý II/2025.
Cơ cấu thị trường cung cấp thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh cho Việt Nam (ĐVT: % tính theo lượng)
Nguồn: Bản tin thị trường nông-lâm-thủy sản, Bộ Công thương
Xem thêm:
Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 6.2026
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 15/9/2026
- Giá heo hơi ngày 15/9: Miền Bắc trở lại mốc 60.000 đồng/kg
- Giá heo hơi ngày 14/9: Chưa vượt lại mốc 60.000 đồng/kg
- Giá heo hơi ngày 12/9: Đà giảm lan rộng, giá phổ biến từ 57.000–59.000 đồng/kg
- Giá heo hơi ngày 11/9: Mặt bằng cả nước lùi về 57.000–59.000 đồng/kg
- Giá heo hơi ngày 10/9: Thị trường đi ngang, miền Bắc duy trì vùng giá cao
- Giá heo hơi ngày 9/9: Đà tăng chững lại, thị trường dao động 57.000 – 60.000 đồng/kg
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 8/9/2026
- Giá heo hơi ngày 8/9: Miền Bắc giảm, thị trường tiếp tục phân hóa
- Giá heo hơi hôm nay 7.9.2026: Tiếp tục tăng ở miền Bắc
Tin mới nhất
T4,16/09/2026
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 15/9/2026
- Giá heo hơi ngày 15/9: Miền Bắc trở lại mốc 60.000 đồng/kg
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
- AAAP 2026: Hơn 1.400 đại biểu đăng ký, trọng tâm phát triển chăn nuôi bền vững
- Giá heo hơi ngày 14/9: Chưa vượt lại mốc 60.000 đồng/kg
- Chế phẩm EB-L được thử nghiệm trong chăn nuôi heo tại Gia Lai
- Giá heo hơi ngày 12/9: Đà giảm lan rộng, giá phổ biến từ 57.000–59.000 đồng/kg
- Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản: Những quy định cần lưu ý
- Công ty NAPHA thông báo tuyển dụng nhân viên kinh doanh
- Công ty CP Nông sản Phú Gia đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong chăn nuôi gà giống
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An



























Bình luận mới nhất