Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 59.100 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 57.500 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 57.900 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 64.800 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 44.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 45.700 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 30.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 27.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 27.000 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 48.300 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 44.800 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 44.800 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.100 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.880 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.730 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.000 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.030 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 1.990 đ/quả
    •  
  • Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết
    [Chăn nuôi Việt Nam] – Từ chỗ phụ thuộc phần lớn vào sữa bột nhập khẩu, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã bứt phá ngoạn mục để vươn lên thành ngành kinh tế – kỹ thuật hiện đại hàng đầu khu vực. Đằng sau bước tiến chất lượng ấy, bên cạnh các đại trang trại công nghệ cao, hạt nhân cốt lõi chính là mô hình chuỗi thức ăn liên kết Nông dân – Trang trại – Doanh nghiệp. Điều đặc biệt là trong mô hình chuỗi thức ăn liên kết người nông dân trở thành người có tay nghề bậc cao trên chính công việc của mình – những “chuyên gia” ngay trên cánh đồng cỏ, cánh đồng ngô của họ – đó là sự trưởng thành của nguồn nhân lực nông thôn – Một yếu tố quyết định cho nền nông nghiệp hiện đại.
     
    TỪ CHĂN NUÔI NHỎ LẺ ĐẾN CHUỖI LIÊN KẾT KHÉP KÍN
     
    Hơn hai thập kỷ qua, ngành chăn nuôi bò sữa nước ta đã trải qua một cuộc cách mạng thực sự về tư duy quản trị lẫn công nghệ. Ngành sữa bước vào giai đoạn sản xuất công nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ số toàn diện, quản lý đàn và vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe nhất. Tuy nhiên, khi quy mô tổng đàn bò sữa toàn quốc tăng nhanh và tiệm cận các chuẩn mực thế giới, ngành nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với một “nút thắt” chiến lược: Bài toán tự chủ nguồn thức ăn thô xanh chất lượng cao. 
     
    Trong cơ cấu chi phí chăn nuôi bò sữa, thức ăn chiếm tới 60% – 70% giá thành sản xuất. Bò sữa là loài động vật nhai lại, năng suất và chất lượng sữa (chỉ số độ béo, protein, mỡ sữa) phụ thuộc trực tiếp vào khẩu phần thức ăn thô xanh tươi ngon, đạt chuẩn dinh dưỡng. Nếu phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (như cỏ khô Alfalfa hay ngô ủ chua đóng kiện từ nước ngoài), doanh nghiệp và trang trại sẽ chịu áp lực khổng lồ từ chi phí vận chuyển logistics, rủi ro tỷ giá và biến động cung – cầu toàn cầu.
     
    Nhận diện rõ thách thức này, mô hình chuỗi thức ăn liên kết với sự kết hợp của Nông dân – Trang trại nuôi bò sữa – Doanh nghiệp  đã xuất hiện như một “chìa khóa vàng”, mở ra hướng đi tối ưu cho bức tranh kinh tế ngành sữa. Chuỗi thức ăn liên kết trong chăn nuôi bò sữa là mẫu hình sinh động cho Kinh tế tuần hoàn – nơi giá trị nông sản được nhân đôi, sinh kế nông dân được nâng chất và hệ sinh thái môi trường được phục hồi bền vững.
     
     Mô hình chuỗi thức ăn liên kết trong ngành chăn nuôi bò sữa đang khẳng định vai trò là lời giải toàn diện cho bài toán phát triển nông thôn bền vững, nơi tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và ổn định an sinh xã hội
     
    BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA MÔ HÌNH CHUỖI THỨC ĂN LIÊN KẾT
     
    Mô hình chuỗi thức ăn liên kết trong chăn nuôi bò sữa không đơn thuần là hoạt động mua – bán hàng hóa nông sản thông thường, mà là một hệ sinh thái hợp tác kỹ thuật và kinh tế chặt chẽ giữa 3 mắt xích chính:
     

    Nông dân địa phương

    Trang trại chăn nuôi

    Doanh nghiệp chế biến

    Quy hoạch & Canh tác

     

    Ủ chua & Thu hoạch sữa

     

    Thương mại & Phân phối

     
     
    Mắt xích 1: Nông dân địa phương – “Nhà sản xuất nguyên liệu đầu vào”
     
    Nông dân chuyển đổi các diện tích đất lúa kém hiệu quả, đất bãi bồi sang quy hoạch trồng các loại cây thức ăn cao sản ngắn ngày như ngô sinh khối (Biomass Maize). Thay vì trồng ngô lấy hạt kéo dài 100–110 ngày, nông dân thu hoạch ngô sinh khối ở giai đoạn chín sáp (80–85 ngày) – thời điểm toàn bộ thân, lá, bắp ngô đạt hàm lượng dinh dưỡng và năng lượng tối ưu cho bò sữa.
     

    Nông dân địa phương – Người sản xuất nguyên liệu đầu vào chất lượng

    Không chỉ ngô sinh khối, các giống cỏ cao sản như VA06, Mombasa, cỏ voi và Paspalum đang trở thành trụ cột của vùng nguyên liệu thức ăn. Đây là những giống cỏ có năng suất cao, tái sinh nhanh sau mỗi lần cắt, cho thu hoạch nhiều lứa trong năm và phù hợp với điều kiện sinh thái của nhiều vùng ở Việt Nam. Việc kết hợp giữa ngô sinh khối và các giống cỏ cao sản giúp cân đối khẩu phần dinh dưỡng, bảo đảm nguồn thức ăn xanh quanh năm, giảm áp lực nhập khẩu thức ăn thô và tăng tính chủ động cho các trang trại bò sữa. Đồng thời, những cánh đồng cỏ lâu năm còn góp phần che phủ đất, hạn chế xói mòn, giữ ẩm và cải thiện độ phì của đất canh tác.
     
    Mắt xích 2: Trang trại chăn nuôi – “Trung tâm kỹ thuật & Bao tiêu”
     
    Trang trại chăn nuôi bò sữa được cung cấp nguồn thức ăn đầy dinh dưỡng 
     
    Trang trại bò sữa đóng vai trò vừa là khách hàng bao tiêu, vừa là “trung tâm chuyển giao công nghệ”. Trang trại cung cấp giống ngô chuẩn, hướng dẫn nông dân quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và thời điểm thu hoạch. Khi ngô/cỏ thu hoạch xong, trang trại tiến hành thu mua tại chỗ với mức giá thu mua ổn định được cam kết bằng hợp đồng dài hạn, sau đó đưa vào hệ thống ủ chua (Silage) phối trộn TMR (Total Mixed Ration) đạt chuẩn dinh dưỡng cho đàn bò.
     
    Mắt xích 3: Doanh nghiệp chế biến & phân phối – “Đầu ra thương mại bền vững”
     
    Doanh nghiệp tiếp nhận nguồn sữa tươi nguyên liệu thuần khiết, chất lượng cao từ trang trại. Nhờ kiểm soát tốt chất lượng thức ăn đầu vào, sữa thu hoạch có vi sinh thấp, hàm lượng dinh dưỡng cao, giúp doanh nghiệp tinh chế và chế biến sâu thành các dòng sản phẩm cao cấp (sữa tươi thanh trùng, tiệt trùng, sữa chua, phô mai…) có sức cạnh tranh vượt trội trên thị trường trong nước và quốc tế.
     
    Doanh nghiệp có được nguồn sữa chất lượng từ trang trại 
     
    HIỆU QUẢ VƯỢT TRỘI SO VỚI CHĂN NUÔI TRUYỀN THỐNG
     
    Giảm tối đa sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và Tối ưu chi phí
     
    Việc phát triển vùng nguyên liệu ngô sinh khối và cỏ cao sản nội địa giúp các trang trại chăn nuôi bò sữa chủ động 80-90% nhu cầu thức ăn thô xanh. Thay vì phải chi trả chi phí vận chuyển xuyên đại dương cho cỏ khô nhập khẩu, việc thu mua nông sản ngay trong bán kính 10-30km quanh trang trại cắt giảm tối đa chi phí logistics, giảm thiểu rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng.
     
    Tăng chỉ số dinh dưỡng và năng suất sữa
     
    Nguồn thức ăn tươi được thu hoạch đúng độ tuổi sinh trưởng và đưa vào quy trình ủ chua chuẩn công nghệ giúp giữ nguyên hàm lượng Đường, Protein thô và Xơ hòa tan (NDF/ADF). Bò sữa ăn khẩu phần ủ chua đạt chuẩn sẽ tiêu hóa tốt hơn, kích thích tiết sữa và gia tăng đáng kể độ béo (Fat content) từ 3.5% – 4.0% cũng như hàm lượng Protein trong sữa tươi lên mức ≥ 3.1% – những chỉ số vàng phản ánh chất lượng dòng sữa thượng hạng.
     
    BỨC TRANH CỘNG HƯỞNG GIÁ TRỊ:  WIN – WIN – WIN
     
    Hiệu quả vĩ mô lớn nhất của mô hình chuỗi thức ăn liên kết chính là tạo ra cơ chế lợi ích hài hòa cho cả 3 chủ thể tham gia:
     

    MÔ HÌNH CHUỖI THỨC ĂN LIÊN KẾT

    NÔNG DÂN

    TRANG TRẠI

    DOANH NGHIỆP

    Thu nhập ổn định

    Nguồn sữa ngon

    Sản phẩm thương

    hiệu dẫn đầu

    An tâm sản xuất

    Chủ động chi phí

     
     
    Sự liên kết tạo ra giá trị cho tất cả các bên tham gia
     
    Đối với người nông dân: Loại bỏ hoàn toàn tình trạng “được mùa mất giá” hoặc bị thương lái ép giá. Nông dân tăng từ 2 vụ canh tác/năm (ngô lấy hạt) lên 3-4 vụ/năm (ngô sinh khối), giúp doanh thu trên mỗi hecta đất tăng từ 1.5 đến 2 lần, tạo dòng tiền ổn định hàng tháng để an tâm lập nghiệp trên chính quê hương.
     
    Đối với trang trại chăn nuôi: Tự chủ được nguồn nguyên liệu đạt chuẩn chất lượng khắt khe nhất, chủ động kiểm soát giá thành sản xuất và bảo đảm sức khỏe lâu dài cho đàn bò sữa.
     
    Đối với doanh nghiệp & Thị trường: Xây dựng được thương hiệu sữa sạch, thuần khiết từ gốc (From Farm to Table). Sản phẩm thương mại có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ giữ trọn hương vị tươi ngon và giá trị dinh dưỡng tự nhiên, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh và bền vững.
     
    Mô hình chuỗi thức ăn liên kết trong chăn nuôi bò sữa không chỉ dừng lại ở một bài toán kinh tế về tối ưu hóa chi phí sản xuất, mà đã trở thành hình mẫu điển hình cho tư duy kinh tế nông nghiệp tuần hoàn và phát triển bền vững tại Việt Nam. 
     
     
    P.V

    CHUỖI THỨC ĂN LIÊN KẾT TRONG CHĂN NUÔI BÒ SỮA: TỪ MỘT MÔ HÌNH SẢN XUẤT ĐẾN TƯ DUY PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI

    Chuyên gia nông nghiệp – Hoàng Trọng Thủy 

     

    Trong nhiều năm qua, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô đàn, năng suất và trình độ công nghệ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở những trang trại hiện đại hay những dây chuyền chế biến tiên tiến, mà ở sự hình thành của chuỗi thức ăn liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp đang trở thành một mô hình tổ chức sản xuất mới, tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và môi trường nông nghiệp, nông thôn.

     

    Chuỗi thức ăn liên kết – giá trị không chỉ nằm ở cánh đồng cỏ

     

    Theo tôi, điểm ưu việt nhất của mô hình này không phải là trồng được nhiều cỏ hơn hay nhiều ngô sinh khối hơn, mà là đã tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị.

     

    Trước đây, người nông dân chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, bán sản phẩm qua thương lái và luôn đối mặt với nỗi lo bị ép giá hoặc trong sự bấp bênh “được mùa mất giá”. Trong liên kết theo chuỗi cung – cầu và chuỗi giá trị – Người nông dân không còn sản xuất một cách đơn lẻ mà trở thành một mắt xích, một tác nhân của cả hệ thống. Họ biết mình trồng cây gì, trồng bao nhiêu, sản phẩm đạt tiêu chuẩn nào và sẽ bán cho ai ngay từ đầu vụ – Đó là sự thay đổi rất lớn về tư duy.

     

    Mặt khác, thức ăn chiếm khoảng 60-70% giá thành chăn nuôi bò sữa. Khi hình thành được vùng nguyên liệu ngô sinh khối và cỏ cao sản ngay quanh các trang trại thì doanh nghiệp chủ động được nguồn thức ăn, giảm phụ thuộc nhập khẩu, giảm chi phí vận chuyển, kiểm soát chất lượng tốt hơn và nâng cao chất lượng sữa nguyên liệu.

     

    Quan trọng hơn, mô hình này đã tạo ra một chuỗi giá trị khép kín từ đồng ruộng cung cấp thức ăn cho đàn bò; đàn bò tạo ra sữa; chất thải được xử lý thành phân hữu cơ để quay trở lại đồng ruộng. Đó chính là tư duy kinh tế tuần hoàn mà nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới.

     

    Nói một cách ngắn gọn, chuỗi thức ăn liên kết không chỉ tạo ra thức ăn cho bò sữa mà còn tạo ra một hệ sinh thái sản xuất bền vững.

     

    Khi người nông dân trở thành đối tác lâu dài của doanh nghiệp

     

    Theo tôi, giá trị lớn nhất của mô hình này lại nằm ở con người. Trong nhiều năm, chúng ta thường nói đến việc giữ người dân ở lại nông thôn. Nhưng muốn họ ở lại thì phải có việc làm ổn định, có thu nhập, có cơ hội phát triển nghề nghiệp, tiến tới No đủ – Làm giàu thì chuỗi thức ăn liên kết đã tạo ra điều đó.

     

    Người nông dân không còn là người bán nông sản theo từng vụ, mà trở thành đối tác lâu dài của doanh nghiệp. Mối quan hệ không chỉ là mua và bán mà nó còn là bốn tầng hợp tác: về kỹ thuật, chất lượng, kế hoạch sản xuất và chia sẻ lợi ích.

     

    Khi doanh nghiệp hướng dẫn kỹ thuật trồng cỏ, trồng ngô sinh khối, lựa chọn giống, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và tiêu chuẩn chất lượng, người nông dân từng bước được đào tạo về kiến thức, kỹ năng, kỷ luật và tinh thần hợp tác ngay trên đồng ruộng của mình – Đó là một quá trình tích lũy tri thức rất bền vững.

     

    Một người nông dân trồng cỏ trong mười hay mười lăm năm liên tục sẽ không còn là người lao động phổ thông. Họ sẽ hiểu đặc tính từng giống cỏ, biết cách quản lý dinh dưỡng đất, điều tiết nước tưới, tính toán năng suất và thời điểm thu hoạch tối ưu. Người trồng ngô sinh khối cũng vậy. Qua nhiều năm làm việc với doanh nghiệp, họ sẽ trở thành những người có trình độ nghề nghiệp cao trong chính lĩnh vực mà mình theo đuổi – Đây là điều rất đáng quý.

     

    Ở nhiều nước có nền nông nghiệp phát triển, người nông dân được xã hội tôn trọng không phải vì họ sở hữu nhiều đất đai mà vì họ là những người có trình độ nghề nghiệp cao, làm ra sản phẩm có trách nhiệm với xã hội, với môi trường. Nông nghiệp hiện đại không cần nhiều lao động giản đơn, mà cần những người nông dân chuyên nghiệp.

     

    Vì vậy, theo tôi, thành công lớn nhất của chuỗi thức ăn liên kết không chỉ là tăng năng suất hay tăng thu nhập mà còn là hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp ngay trên chính quê hương của họ.

     

    Khi có việc làm ổn định, thu nhập đều đặn và được doanh nghiệp đồng hành lâu dài, người dân sẽ có điều kiện đầu tư cho con cái học hành, cải thiện nhà cửa và gắn bó với quê hương. Đó cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh và bền vững.

     

    Muốn nhân rộng mô hình, cần chính sách đồng hành

     

    Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả của mô hình, nhưng để phát triển trên quy mô lớn vẫn còn nhiều rào cản.

     

    Khó khăn đầu tiên là đất đai còn manh mún, khiến việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo quy trình, theo tiêu chuẩn và cơ giới hóa gặp nhiều trở ngại.

     

    Khó khăn thứ hai là khả năng tiếp cận vốn của nông dân và hợp tác xã còn hạn chế, trong khi đầu tư vào hệ thống tưới, máy thu hoạch, máy băm sinh khối hay kho ủ chua đều cần nguồn lực khá lớn.

     

    Khó khăn thứ ba là liên kết hợp đồng giữa các bên chưa thật sự bền vững. Khi giá thị trường biến động, nguy cơ phá vỡ hợp đồng vẫn có thể xảy ra nếu thiếu cơ chế bảo đảm và vai trò “bệ đỡ” của chính quyền.

     

    Theo tôi, để mô hình này được nhân rộng và phát triển mạnh hơn, cần năm chính sách trọng tâm:

     

    Trước hết, các địa phương cần quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu thức ăn tập trung gắn với các trang trại bò sữa, đồng thời đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, giao thông, thủy lợi nội đồng để thuận lợi cho sản xuất.

     

    Thứ hai, cần có chính sách tín dụng ưu đãi dành cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, mua sắm thiết bị điện tử thông minh cho chuyển đổi số, mua máy móc thu hoạch, hệ thống tưới tiết kiệm nước và công nghệ chế biến thức ăn.

     

    Thứ ba, cần củng cố, xây dựng tổ hợp tác, hợp tác xã, chi tổ hội Nông dân nghề nghiệp như một trung tâm tổ chức sản xuất, chuyển giao kỹ thuật và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp. Đây sẽ là cầu nối quan trọng giúp giảm chi phí đầu vào sản xuất và nâng cao tính bền vững của chuỗi liên kết.

     

    Thứ tư, cần xây dựng cơ chế bảo hiểm nông nghiệp đối với vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai và biến đổi khí hậu.

     

    Cuối cùng, cần coi chuỗi thức ăn liên kết là một “hạ tầng mềm” của ngành sữa trong kết nối người nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường. Đầu tư cho chuỗi liên kết không chỉ là hỗ trợ sản xuất mà là đầu tư cho sức cạnh tranh lâu dài của ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam.

     

    Từ mô hình ngành sữa đến tư duy phát triển nông nghiệp

     

    Theo tôi, điều có ý nghĩa nhất mà chuỗi thức ăn liên kết mang lại là một bài học về tổ chức sản xuất. Đó là bài học lấy liên kết làm nền tảng, lấy lợi ích hài hòa làm động lực và lấy người nông dân làm trung tâm của quá trình phát triển.

     

    Một nền nông nghiệp hiện đại không thể chỉ dựa vào những trang trại lớn hay những nhà máy hiện đại, mà phải được xây dựng trên những vùng nguyên liệu ổn định, những người nông dân có tay nghề cao và những doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành lâu dài. Tôi cho rằng, trong ngành sữa, cọng cỏ không chỉ nuôi con bò; cọng cỏ còn nuôi cả một chuỗi giá trị, nuôi sinh lế của người nông dân và nuôi sức cạnh tranh của thương hiệu sữa Việt. Tôi xin nhấn mạnh rằng, khi người nông dân trở thành người có tay nghề bậc cao ngay trên chính công việc của mình thì đó là sự trưởng thành của nguồn nhân lực nông thôn – Một yếu tố quyết định cho nền nông nghiệp hiện đại.

     

    Khi người nông dân không còn đứng ngoài chuỗi giá trị mà trở thành đối tác của doanh nghiệp; khi cánh đồng không chỉ tạo ra nông sản mà còn tạo ra việc làm, tri thức và môi trường xanh; khi lợi ích của nông dân, doanh nghiệp và xã hội cùng gặp nhau trong một chuỗi liên kết bền vững, thì đó không chỉ là thành công của ngành sữa mà còn là hướng đi đáng tham khảo cho nhiều ngành hàng nông nghiệp khác của Việt Nam.

     

    Hoàng Trọng Thủy

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Mai Phương
  • Sài gòn Sáng từ sáng sớm 5h sáng đến 9h sáng. Trưa từ 1h đến 2h trưa. Chiều tối từ 5h đến 7h mốc thời gian những người không có ý thức, ý thức tồi và kém văn hoá dẫn chó vào khuôn viên chung cư, sân tập thể dục, nơi trẻ em chơi đùa của chung cư phóng uế ngang nhiên bừa bãi, trong khi sân tập thể dục chung cư có gắn biển cảnh báo "Cấm" dẫn chó vào khuôn viên xung quanh chung cư và sân tập thể dục chung cư. Những người nuôi chó vô ý thức này vân xem như không có gì mặt vênh váo, có cả người ở trong chung cư dẫn có ị đáy.. Bảo vệ chung cư thì ngồi ở phía trong không bao giờ đi tuần theo khung giờ những người dẫn chó ị đáy. Sân tập thể dục chung cư thì không gắn Camera an ninh. Không riêng gì ở chung cư, vành đai tất các trường học trong Sài Gòn, lề đường và lòng lề đường hầu như đều có phân và nước tiểu chó rất hôi thối ô nhiễm môi trường sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng cộng đồng dân cư cần nghiêm khắc lên án báo động. Nhưng không thấy ban ngành địa phương dùng biện pháp, nghiệp vụ xử lý nghiêm khắc quyết tâm triệt để. Cứ làm cho có thì vấn nạn này mãi không loại bỏ và dẹp được. Đây là Bức xúc của tất cả cộng đồng dân cư. Biện pháp ngăn chặn ngăn ngừa lâu dài là quan trọng. Khẩn trương quyết liệt là điều cộng đồng dân cư hưởng ứng ủng hộ mạnh. Nói đi đôi với thực hiện nghiêm, không chần chờ trước các vấn nạn xã hội. Cần tiêu trừ các vấn nạn trừ ngay và luôn.

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.