|
Nông dân địa phương |
→ |
Trang trại chăn nuôi |
→ |
Doanh nghiệp chế biến |
|
Quy hoạch & Canh tác |
Ủ chua & Thu hoạch sữa |
Thương mại & Phân phối |
Nông dân địa phương – Người sản xuất nguyên liệu đầu vào chất lượng
|
MÔ HÌNH CHUỖI THỨC ĂN LIÊN KẾT |
||
|
NÔNG DÂN |
TRANG TRẠI |
DOANH NGHIỆP |
|
Thu nhập ổn định |
Nguồn sữa ngon |
Sản phẩm thương hiệu dẫn đầu |
|
An tâm sản xuất |
Chủ động chi phí |
|
CHUỖI THỨC ĂN LIÊN KẾT TRONG CHĂN NUÔI BÒ SỮA: TỪ MỘT MÔ HÌNH SẢN XUẤT ĐẾN TƯ DUY PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI
Chuyên gia nông nghiệp – Hoàng Trọng Thủy
Trong nhiều năm qua, ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô đàn, năng suất và trình độ công nghệ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở những trang trại hiện đại hay những dây chuyền chế biến tiên tiến, mà ở sự hình thành của chuỗi thức ăn liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, trang trại và doanh nghiệp đang trở thành một mô hình tổ chức sản xuất mới, tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và môi trường nông nghiệp, nông thôn.
Chuỗi thức ăn liên kết – giá trị không chỉ nằm ở cánh đồng cỏ
Theo tôi, điểm ưu việt nhất của mô hình này không phải là trồng được nhiều cỏ hơn hay nhiều ngô sinh khối hơn, mà là đã tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị.
Trước đây, người nông dân chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, bán sản phẩm qua thương lái và luôn đối mặt với nỗi lo bị ép giá hoặc trong sự bấp bênh “được mùa mất giá”. Trong liên kết theo chuỗi cung – cầu và chuỗi giá trị – Người nông dân không còn sản xuất một cách đơn lẻ mà trở thành một mắt xích, một tác nhân của cả hệ thống. Họ biết mình trồng cây gì, trồng bao nhiêu, sản phẩm đạt tiêu chuẩn nào và sẽ bán cho ai ngay từ đầu vụ – Đó là sự thay đổi rất lớn về tư duy.
Mặt khác, thức ăn chiếm khoảng 60-70% giá thành chăn nuôi bò sữa. Khi hình thành được vùng nguyên liệu ngô sinh khối và cỏ cao sản ngay quanh các trang trại thì doanh nghiệp chủ động được nguồn thức ăn, giảm phụ thuộc nhập khẩu, giảm chi phí vận chuyển, kiểm soát chất lượng tốt hơn và nâng cao chất lượng sữa nguyên liệu.
Quan trọng hơn, mô hình này đã tạo ra một chuỗi giá trị khép kín từ đồng ruộng cung cấp thức ăn cho đàn bò; đàn bò tạo ra sữa; chất thải được xử lý thành phân hữu cơ để quay trở lại đồng ruộng. Đó chính là tư duy kinh tế tuần hoàn mà nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới.
Nói một cách ngắn gọn, chuỗi thức ăn liên kết không chỉ tạo ra thức ăn cho bò sữa mà còn tạo ra một hệ sinh thái sản xuất bền vững.
Khi người nông dân trở thành đối tác lâu dài của doanh nghiệp
Theo tôi, giá trị lớn nhất của mô hình này lại nằm ở con người. Trong nhiều năm, chúng ta thường nói đến việc giữ người dân ở lại nông thôn. Nhưng muốn họ ở lại thì phải có việc làm ổn định, có thu nhập, có cơ hội phát triển nghề nghiệp, tiến tới No đủ – Làm giàu thì chuỗi thức ăn liên kết đã tạo ra điều đó.
Người nông dân không còn là người bán nông sản theo từng vụ, mà trở thành đối tác lâu dài của doanh nghiệp. Mối quan hệ không chỉ là mua và bán mà nó còn là bốn tầng hợp tác: về kỹ thuật, chất lượng, kế hoạch sản xuất và chia sẻ lợi ích.
Khi doanh nghiệp hướng dẫn kỹ thuật trồng cỏ, trồng ngô sinh khối, lựa chọn giống, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và tiêu chuẩn chất lượng, người nông dân từng bước được đào tạo về kiến thức, kỹ năng, kỷ luật và tinh thần hợp tác ngay trên đồng ruộng của mình – Đó là một quá trình tích lũy tri thức rất bền vững.
Một người nông dân trồng cỏ trong mười hay mười lăm năm liên tục sẽ không còn là người lao động phổ thông. Họ sẽ hiểu đặc tính từng giống cỏ, biết cách quản lý dinh dưỡng đất, điều tiết nước tưới, tính toán năng suất và thời điểm thu hoạch tối ưu. Người trồng ngô sinh khối cũng vậy. Qua nhiều năm làm việc với doanh nghiệp, họ sẽ trở thành những người có trình độ nghề nghiệp cao trong chính lĩnh vực mà mình theo đuổi – Đây là điều rất đáng quý.
Ở nhiều nước có nền nông nghiệp phát triển, người nông dân được xã hội tôn trọng không phải vì họ sở hữu nhiều đất đai mà vì họ là những người có trình độ nghề nghiệp cao, làm ra sản phẩm có trách nhiệm với xã hội, với môi trường. Nông nghiệp hiện đại không cần nhiều lao động giản đơn, mà cần những người nông dân chuyên nghiệp.
Vì vậy, theo tôi, thành công lớn nhất của chuỗi thức ăn liên kết không chỉ là tăng năng suất hay tăng thu nhập mà còn là hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp ngay trên chính quê hương của họ.
Khi có việc làm ổn định, thu nhập đều đặn và được doanh nghiệp đồng hành lâu dài, người dân sẽ có điều kiện đầu tư cho con cái học hành, cải thiện nhà cửa và gắn bó với quê hương. Đó cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh và bền vững.
Muốn nhân rộng mô hình, cần chính sách đồng hành
Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả của mô hình, nhưng để phát triển trên quy mô lớn vẫn còn nhiều rào cản.
Khó khăn đầu tiên là đất đai còn manh mún, khiến việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo quy trình, theo tiêu chuẩn và cơ giới hóa gặp nhiều trở ngại.
Khó khăn thứ hai là khả năng tiếp cận vốn của nông dân và hợp tác xã còn hạn chế, trong khi đầu tư vào hệ thống tưới, máy thu hoạch, máy băm sinh khối hay kho ủ chua đều cần nguồn lực khá lớn.
Khó khăn thứ ba là liên kết hợp đồng giữa các bên chưa thật sự bền vững. Khi giá thị trường biến động, nguy cơ phá vỡ hợp đồng vẫn có thể xảy ra nếu thiếu cơ chế bảo đảm và vai trò “bệ đỡ” của chính quyền.
Theo tôi, để mô hình này được nhân rộng và phát triển mạnh hơn, cần năm chính sách trọng tâm:
Trước hết, các địa phương cần quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu thức ăn tập trung gắn với các trang trại bò sữa, đồng thời đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, giao thông, thủy lợi nội đồng để thuận lợi cho sản xuất.
Thứ hai, cần có chính sách tín dụng ưu đãi dành cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, mua sắm thiết bị điện tử thông minh cho chuyển đổi số, mua máy móc thu hoạch, hệ thống tưới tiết kiệm nước và công nghệ chế biến thức ăn.
Thứ ba, cần củng cố, xây dựng tổ hợp tác, hợp tác xã, chi tổ hội Nông dân nghề nghiệp như một trung tâm tổ chức sản xuất, chuyển giao kỹ thuật và ký kết hợp đồng với doanh nghiệp. Đây sẽ là cầu nối quan trọng giúp giảm chi phí đầu vào sản xuất và nâng cao tính bền vững của chuỗi liên kết.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế bảo hiểm nông nghiệp đối với vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai và biến đổi khí hậu.
Cuối cùng, cần coi chuỗi thức ăn liên kết là một “hạ tầng mềm” của ngành sữa trong kết nối người nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường. Đầu tư cho chuỗi liên kết không chỉ là hỗ trợ sản xuất mà là đầu tư cho sức cạnh tranh lâu dài của ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam.
Từ mô hình ngành sữa đến tư duy phát triển nông nghiệp
Theo tôi, điều có ý nghĩa nhất mà chuỗi thức ăn liên kết mang lại là một bài học về tổ chức sản xuất. Đó là bài học lấy liên kết làm nền tảng, lấy lợi ích hài hòa làm động lực và lấy người nông dân làm trung tâm của quá trình phát triển.
Một nền nông nghiệp hiện đại không thể chỉ dựa vào những trang trại lớn hay những nhà máy hiện đại, mà phải được xây dựng trên những vùng nguyên liệu ổn định, những người nông dân có tay nghề cao và những doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành lâu dài. Tôi cho rằng, trong ngành sữa, cọng cỏ không chỉ nuôi con bò; cọng cỏ còn nuôi cả một chuỗi giá trị, nuôi sinh lế của người nông dân và nuôi sức cạnh tranh của thương hiệu sữa Việt. Tôi xin nhấn mạnh rằng, khi người nông dân trở thành người có tay nghề bậc cao ngay trên chính công việc của mình thì đó là sự trưởng thành của nguồn nhân lực nông thôn – Một yếu tố quyết định cho nền nông nghiệp hiện đại.
Khi người nông dân không còn đứng ngoài chuỗi giá trị mà trở thành đối tác của doanh nghiệp; khi cánh đồng không chỉ tạo ra nông sản mà còn tạo ra việc làm, tri thức và môi trường xanh; khi lợi ích của nông dân, doanh nghiệp và xã hội cùng gặp nhau trong một chuỗi liên kết bền vững, thì đó không chỉ là thành công của ngành sữa mà còn là hướng đi đáng tham khảo cho nhiều ngành hàng nông nghiệp khác của Việt Nam.
Hoàng Trọng Thủy
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
- Ứng dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi lợn: Giải pháp thay thế kháng sinh và nâng cao hiệu quả sản xuất
- Hiện trạng và lỗ hổng an toàn sinh học trong chăn nuôi heo thời kỳ hậu dịch tả heo Châu Phi
- Grooming cho chó, mèo: Không chỉ là làm đẹp
- Đồng nhiễm H9N2 và IBV trên gia cầm: Thách thức và giải pháp phòng ngừa toàn diện
- Khánh Hòa: Đưa sản phẩm dê, cừu vào thị trường Halal
- Công nghệ bảo quản thông minh: Định hình tương lai an toàn TĂCN
- Đại học Tây Nguyên tăng cường đào tạo thú y thú nhỏ gắn với thực tiễn
- Nghệ An: “Nuôi sạch, sống xanh” câu chuyện của người nông dân thời đại mới
- VSAVA và Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM: Triệt sản miễn phí cho hơn 100 chú mèo
Tin mới nhất
T4,16/09/2026
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 15/9/2026
- Giá heo hơi ngày 15/9: Miền Bắc trở lại mốc 60.000 đồng/kg
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
- AAAP 2026: Hơn 1.400 đại biểu đăng ký, trọng tâm phát triển chăn nuôi bền vững
- Giá heo hơi ngày 14/9: Chưa vượt lại mốc 60.000 đồng/kg
- Chế phẩm EB-L được thử nghiệm trong chăn nuôi heo tại Gia Lai
- Giá heo hơi ngày 12/9: Đà giảm lan rộng, giá phổ biến từ 57.000–59.000 đồng/kg
- Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản: Những quy định cần lưu ý
- Công ty NAPHA thông báo tuyển dụng nhân viên kinh doanh
- Công ty CP Nông sản Phú Gia đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong chăn nuôi gà giống
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An



























Bình luận mới nhất