Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 64.700 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 62.480 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 61.600 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 47.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 48.460 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 49.940 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 33.400 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 29.800 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 30.400 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 39.500 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 41.120 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 46.920 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.060 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.920 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.680 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.000 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.112 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 2.088 đ/quả
    •  
  • Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Từ đầu tháng 7 tới nay, hàng loạt doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi (TĂCN) đồng loạt công bố các chương trình giảm giá trực tiếp hoặc khuyến mại, giúp người chăn nuôi giảm bớt khó khăn.

     

    Làn sóng giảm giá TĂCN đầu tiên trong năm 2026

     

    Trước 6/2026, giá TĂCN trong nước đã phải hứng chịu đợt bão giá nghiêm trọng. Sự gián đoạn nguồn cung ở một số thời điểm kết hợp giá cước vận chuyển neo cao và đà tăng giá thế giới đã đẩy giá nội địa lên cao. Chỉ riêng trong tháng 4 và tháng 5 năm 2026, giá TĂCN thành phẩm trong nước đã tăng liên tiếp từ 3- 4 lần, tùy doanh nghiệp, đạt tổng mức tăng từ 5% đến 7% tùy loại, đè nặng gánh nặng chi phí lên vai người chăn nuôi.

     

    Bước sang tháng 7/2026, thị trường TĂCN ghi nhận đợt giảm giá quy mô lớn đầu tiên trong năm khi hàng loạt doanh nghiệp dẫn đầu ngành như C.P. Việt Nam, ANT, Haid, GREENFEED, Japfa, Dabaco, Tongwei, BGF, Vinafeed, APPE, CNC, Viet Nhat Group… đồng loạt điều chỉnh giảm giá bán. Mức giảm phổ biến từ 160-200 đồng/kg, cá biệt có một số sản phẩm được hỗ trợ tới 400-800 đồng/kg. Theo các doanh nghiệp, động thái này nhằm chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào có xu hướng hạ nhiệt.

    Bên trong nhà máy thức ăn chăn nuôi của Tập đoàn BGF

     

    Mở đầu đợt điều chỉnh, từ ngày 01/7/2026, Tập đoàn BGF giảm đồng loạt 200 đồng/ kg đối với toàn bộ sản phẩm tại các nhà máy BIGRFEED Hưng Yên, BIGRFEED Bình Định và BIGRFEED Vĩnh Long.

     

    Từ ngày 8/7, C.P. Việt Nam áp dụng mức giảm 160 đồng/kg đối với thức ăn gia cầm đẻ và giảm 200 đồng/kg cho hầu hết các dòng sản phẩm còn lại. Chương trình được triển khai rộng rãi cho các nhóm khách hàng, ngoại trừ Vinamilk.

     

    GREENFEED Việt Nam giảm giá thức ăn chăn nuôi, cụ thể thức ăn heo và gia cầm thịt giảm 200 đồng/kg; thức ăn gia cầm đẻ và bò giảm 160 đồng/kg. Áp dụng tất cả khách hàng là đại lý, trại trực tiếp đang hợp tác với Công ty, thời gian từ ngày 16/7/2026.

     

    Từ ngày 13/7, Japfa Comfeed Việt Nam điều chỉnh giảm giá đến khi có thông báo mới. Các dòng thức ăn cho heo và gia cầm thịt giảm 180 đồng/kg; thức ăn cho gia cầm đẻ, cút và bò giảm 160 đồng/kg.

     

    Dabaco – Kinh Bắc áp dụng biểu giá mới từ ngày 11/7, trong đó thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ, vịt đẻ, cút đẻ và gia cầm hậu bị giảm 160 đồng/kg; các sản phẩm còn lại giảm tối đa 200 đồng/kg.

     

    Anco/Proconco triển khai chương trình hỗ trợ kéo dài trong suốt tháng 7/2026. Một số sản phẩm như mã 20 50S và cám gà C225A được hỗ trợ tới 400 đồng/kg, trong khi nhiều dòng sản phẩm khác được giảm 200 đồng/kg.

     

    ANT cũng tham gia làn sóng giảm giá từ ngày 9/7 với mức giảm 200 đồng/kg cho toàn bộ sản phẩm thức ăn lợn và gia cầm thịt; các dòng thức ăn gia cầm đẻ, gà hậu bị, vịt đẻ và cút giảm 160 đồng/kg.

     

    Tại Hải Dương, Công ty TNHH HAID áp dụng mức giảm từ ngày 11/7, trong đó thức ăn lợn nái giảm 100 đồng/kg, lợn khác giảm 160 đồng/kg, vịt thịt giảm 160 đồng/kg, gà thịt giảm 120 đồng/kg và thức ăn gà đẻ, vịt đẻ giảm 80 đồng/kg.

     

    Tongwei Hòa Bình điều chỉnh giảm từ ngày 13/7 với mức 200 đồng/kg cho hầu hết các sản phẩm thức ăn lợn và gà thịt; thức ăn vịt thịt giảm 160 đồng/kg và vịt đẻ giảm 100 đồng/kg.

     

    Không chỉ các Tập đoàn lớn, nhiều doanh nghiệp quy mô khu vực cũng nhanh chóng tham gia đợt điều chỉnh giá. VinaFeed miền Bắc gây chú ý khi giảm tới 800 đồng/kg đối với sản phẩm chuyên biệt mã 440, đồng thời giảm 200 đồng/kg cho toàn bộ các sản phẩm còn lại từ ngày 02/7/2026.

     

    Viet Nhat Group – chi nhánh miền Bắc thông báo từ ngày 13/7, thức ăn lợn thịt giảm 200 đồng/kg (trừ đậm đặc), thức ăn gia cầm thịt, gia cầm đẻ giảm 150 đồng/kg; không áp dụng với các sản phẩm cám cá. Công ty CP Dinh dưỡng Quốc tế CNC cũng giảm giá tất cả các sản phẩm 200đ/kg, từ ngày 02/7/2026.

     

    Việc nhiều doanh nghiệp đồng loạt giảm giá cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường TĂCN, góp phần giảm chi phí đầu vào và hỗ trợ người chăn nuôi cải thiện hiệu quả sản xuất trong giai đoạn hiện nay.

     

    Khó khăn bủa vây các ngành hàng chăn nuôi chủ lực

     

    Để lý giải làn sóng giảm giá TĂCN trong tháng 7/2026, cần nhìn vào bức tranh chung của ngành chăn nuôi Việt Nam trong nửa đầu năm. Mặc dù sản xuất TĂCN tiếp tục tăng trưởng, song nhiều phân khúc chăn nuôi trọng điểm đang phải đối mặt với hàng loạt áp lực từ dịch bệnh, cung vượt cầu, chi phí tuân thủ pháp lý và sức ép cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu.

     

    Theo Trung tâm Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm và Kiểm định Chăn nuôi Trung ương I (Cục Chăn nuôi và Thú y), sản lượng TĂCN công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 đạt 12,36 triệu tấn, tăng 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu 12,75 triệu tấn nguyên liệu TĂCN với tổng kim ngạch 4,14 tỷ USD, tăng 3,3% về khối lượng.

     

    Chăn nuôi lợn: Giá cao nhưng tăng trưởng không dễ dàng

     

    Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng đàn lợn tiếp tục tăng nhờ xu hướng chuyển dịch từ chăn nuôi nông hộ sang mô hình bán công nghiệp, liên kết với doanh nghiệp và áp dụng chăn nuôi ATSH. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng đàn khá như Lâm Đồng (5,5%), TP. Hồ Chí Minh (4,5%), Đồng Nai (4,2%), Phú Thọ (3,8%) và Bắc Ninh (3,1%).

     

    Tuy nhiên, theo bà Trần Ngọc Yến – chuyên gia của Agromonitor, sự tăng trưởng của ngành lợn đang gặp nhiều rào cản. Giá heo hơi duy trì ở mức cao chủ yếu do nguồn cung thiếu hụt, thay vì xuất phát từ nhu cầu thị trường tăng mạnh. ASF vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt với sự xuất hiện của các chủng virus tái tổ hợp mới, khiến công tác phòng chống dịch và tái đàn gặp nhiều khó khăn.

     

    Tại khu vực phía Bắc, đàn nái phục hồi chậm buộc thương lái phải liên tục vận chuyển heo từ miền Trung và miền Nam ra để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Bên cạnh đó, các quy định về môi trường ngày càng chặt chẽ làm gia tăng chi phí đầu tư hệ thống xử lý chất thải, đồng thời thúc đẩy việc di dời hoặc thu hẹp các cơ sở chăn nuôi không đáp ứng yêu cầu về quy hoạch và giấy phép hoạt động.

     

    Việc tăng cường thanh tra, kiểm tra quy mô chăn nuôi thực tế cũng khiến tốc độ mở rộng đàn chậm hơn kỳ vọng. Đến quý II/2026, tổng đàn nái cả nước chỉ duy trì khoảng 2 triệu con. Tỷ lệ hao hụt trong chăn nuôi heo thịt vẫn ở mức cao do dịch bệnh, trong khi các quy định kiểm soát dư lượng kháng sinh, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng được siết chặt.

     

    Chăn nuôi gia cầm: Áp lực cung vượt cầu

     

    Trái ngược với ngành lợn, chăn nuôi gia cầm đang đối mặt với bài toán dư cung. Nhờ chu kỳ nuôi ngắn, vốn đầu tư thấp và khả năng quay vòng nhanh, nhiều địa phương tiếp tục mở rộng quy mô đàn gia cầm như Cần Thơ (tăng 8,5%), Lâm Đồng (7,2%), Nghệ An (7,1%), Đắk Lắk (6,8%) và Quảng Trị (6,7%).

     

    Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi gà đẻ trong những năm gần đây đã thúc đẩy nhiều hộ nuôi gà thịt chuyển sang sản xuất trứng. Tính đến ngày 01/4/2026, tổng đàn gà đẻ tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2025, kéo theo sản lượng trứng tăng mạnh. Hệ quả là giá trứng gà trong quý II/2026 giảm 2,67% so với quý trước, lượng hàng tồn kho gia tăng và thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn.

     

    Theo bà Trần Ngọc Yến, tình trạng tồn kho thịt và trứng gia cầm ở mức cao đã khiến nhiều trang trại rơi vào cảnh quá tải, giá bán giảm sâu và lợi nhuận suy giảm đáng kể. Trước áp lực dư cung, một số doanh nghiệp sản xuất giống lớn đã phải điều chỉnh kế hoạch ấp nở nhằm hạn chế lượng con giống đưa ra thị trường.

     

    Bên cạnh đó, việc tăng cường kiểm tra, giám sát điều kiện chăn nuôi và giấy phép hoạt động được dự báo sẽ tiếp tục làm chậm tốc độ tăng trưởng của ngành gia cầm, đặc biệt tại khu vực phía Bắc.

     

    Gia súc lớn: Chịu áp lực từ thịt nhập khẩu

     

    Trong khi đó, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng thu hẹp quy mô. Nhiều địa phương ghi nhận số lượng đàn trâu giảm mạnh như Cao Bằng (12,9%), Thanh Hóa (10%), Tuyên Quang (9,1%), Quảng Ngãi (8,5%) và Phú Thọ (7,9%). Đàn bò cũng giảm đáng kể tại Thanh Hóa (9%), Khánh Hòa (7,2%), Phú Thọ (6,3%), Quảng Trị (6%) và Vĩnh Long (5,9%).

     

    Nguyên nhân chủ yếu đến từ hiệu quả chăn nuôi thấp, chi phí sản xuất cao và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thịt nhập khẩu. Nguồn thịt bò, thịt trâu giá cạnh tranh từ nước ngoài liên tục gia tăng đã tạo áp lực lớn lên các hộ chăn nuôi trong nước, khiến nhiều cơ sở thu hẹp quy mô hoặc chuyển đổi sang ngành nghề khác.

     

    Trong bối cảnh các ngành hàng chăn nuôi chủ lực đều đối mặt với những thách thức riêng, việc các doanh nghiệp TĂCN đồng loạt giảm giá được xem là động thái hỗ trợ cần thiết nhằm chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi, đồng thời kích cầu tiêu thụ trong giai đoạn thị trường đang có nhiều biến động.

     

    Nguyên nhân đằng sau làn sóng giảm giá TĂCN

     

    Làn sóng giảm giá TĂCN diễn ra đồng loạt trong tháng 7/2026 không phải là động thái nhất thời, mà phản ánh sự thay đổi rõ nét của thị trường nguyên liệu thế giới sau giai đoạn tăng nóng kéo dài.

     

    Từ tháng 6/2026, thị trường nguyên liệu thế giới bắt đầu đảo chiều mạnh. Theo Agromonitor, giá dầu thô giảm tới 32,4%, xuống còn khoảng 75-80 USD/thùng. Đà giảm này góp phần kéo chi phí vận tải biển, logistics và vận chuyển nội địa đi xuống, qua đó giảm đáng kể chi phí nhập khẩu nguyên liệu.

     

    Song song với đó, các nguyên liệu chủ lực phục vụ sản xuất TĂCN cũng đồng loạt hạ nhiệt. Giá ngô thế giới giảm 15,6%, giá lúa mì giảm 14,7% và giá khô đậu tương giảm 11,7% trong tháng 6/2026. Đây đều là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản xuất TĂCN.

     

    Sự sụt giảm đồng thời của giá năng lượng và nguyên liệu nông sản đã nhanh chóng làm giảm giá nhập khẩu thực tế tại các cảng Việt Nam, tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất TĂCN điều chỉnh giá bán, chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi và kích thích nhu cầu thị trường.

     

    Nắm bắt cơ hội từ mặt bằng giá nguyên liệu thuận lợi, nhiều doanh nghiệp lớn đã đẩy mạnh thu mua và chốt hợp đồng nhập khẩu ngay trong tháng 6/2026. Theo ghi nhận của Agromonitor, phần lớn các nhà máy sản xuất TĂCN đã chủ động dự trữ đủ nguyên liệu cho hoạt động sản xuất đến hết quý III, thậm chí sang quý IV/2026 với mức giá cạnh tranh hơn đáng kể so với giai đoạn đầu năm.

     

    Nhờ chiến lược mua hàng kịp thời, giá nhập khẩu các nguyên liệu TĂCN chủ lực trong năm 2026 được dự báo chỉ tương đương hoặc tăng nhẹ khoảng 1-2% so với mức bình quân năm 2025. Đây là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì các chương trình giảm giá trong ngắn hạn, đồng thời tạo dư địa hỗ trợ ngành chăn nuôi phục hồi sau giai đoạn chịu nhiều áp lực từ dịch bệnh, chi phí sản xuất và biến động thị trường.

     

    Triển vọng thị trường TĂCN cuối năm 2026

     

    Các chuyên gia nhận định, thị trường TĂCN nửa cuối năm 2026 sẽ có sự phân hóa rõ rệt giữa hai miền.

     

    Tại miền Bắc, ngành chăn nuôi tiếp tục chịu áp lực từ dịch bệnh, các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ và việc tăng cường kiểm tra điều kiện pháp lý đối với trang trại. Điều này có thể làm chậm quá trình tái đàn, ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ TĂCN. Nhiều doanh nghiệp sản xuất cám không sở hữu hệ thống trang trại liên kết cũng đang gặp khó khăn khi sản lượng thức ăn cho heo suy giảm. Doanh nghiệp buộc phải mở rộng hợp tác gia công chăn nuôi để duy trì công suất.

     

    Ngược lại, miền Nam được đánh giá có nhiều triển vọng hơn nhờ tình hình dịch bệnh ổn định và dư địa tăng trưởng còn lớn, đặc biệt ở lĩnh vực gia cầm. Đây được kỳ vọng sẽ là động lực chính thúc đẩy tiêu thụ TĂCN trong những tháng cuối năm.

     

    Tuy nhiên, thị trường vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguy cơ xuất hiện siêu El Niño có thể ảnh hưởng đến sản xuất ngô, đậu tương và lúa mì tại các quốc gia xuất khẩu lớn, trong khi những bất ổn địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là các diễn biến liên quan đến quan hệ Mỹ – Iran, xung đột thương mại và biến động trên thị trường năng lượng, vẫn là những yếu tố khó lường. Nếu các rủi ro này gia tăng, giá dầu thô và giá nông sản thế giới có thể quay trở lại xu hướng tăng, làm gia tăng chi phí sản xuất TĂCN và ảnh hưởng đến đà giảm giá hiện nay.

     

    Hà Ngân

     

    Xem thêm:

     

    Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đầu tiên thông báo giảm giá bán, đồng hành cùng người chăn nuôi

    Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Vai trò to lớn của enzyme trong dinh dưỡng vật nuôi

    Nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026

     

    Theo Bộ NN&MT, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục tăng mạnh nhập khẩu các nguyên liệu chủ lực phục vụ sản xuất TĂCN. Cụ thể, nhập khẩu đậu tương đạt 1,9 triệu tấn, trị giá 901 triệu USD, tăng 53,7% về khối lượng và 61,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Lúa mì đạt 4,8 triệu tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, tăng hơn 56% về sản lượng. Ngô tiếp tục là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất với 6,9 triệu tấn, trị giá 1,75 tỷ USD, tăng lần lượt 56,1% về khối lượng và 51,8% về giá trị, chủ yếu từ Brazil và Argentina. Riêng trong tháng 6/2026, lượng ngô nhập khẩu đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 428,9 triệu USD.

     

    Việc gia tăng nhập khẩu các nguyên liệu chủ lực cho thấy nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, đồng thời phản ánh sự phụ thuộc lớn của ngành vào nguồn cung nguyên liệu từ thị trường quốc tế.

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.