TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2025 đến tháng 6/2025 trên gà Lương Phượng (LP) tại trại gà bố mẹ của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Tân Việt Tây Bắc, Hòa Bình nhằm đánh giá khả năng sinh sản và các chỉ tiêu phúc lợi động vật. Tổng số 600 gà mái LP 25 tuần tuổi (TT), được phân ngẫu nhiên vào vào 300 lồng, 2 con/lồng, trong hệ thống chuồng kín để theo dõi đến 40TT. Các chỉ tiêu: tỷ lệ nuôi sống, tuổi thành thục sinh dục, khối lượng cơ thể (KL), tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng, tỷ lệ ấp nở và các chỉ số phúc lợi động vật (tình trạng lông, chân, mào, xương ức) được theo dõi. Kết quả cho thấy: đàn gà có khả năng sinh sản tương đối tốt: tỷ lệ chết và loại thải thấp (1,50%), đạt đỉnh cao về tỷ lệ đẻ lúc 32TT, năng suất trứng lúc 40TT đạt 71,45 quả/mái, tiêu tốn 2,06kg thức ăn/10 quả trứng giống, tỷ lệ ấp nở 89,26%. Sau khi nuôi lồng 7 tuần lễ, đàn gà có bộ lông đạt điểm cao tuyệt đối, tỷ lệ tổn thương nặng về chân, mào và xương ức thấp, tuy nhiên đã bắt đầu xuất hiện tổn thương ở mức độ nhất định ở các bộ phận này.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gà Lương Phượng (LP) là giống gà lông màu có nguồn gốc từ Trung Quốc, được nhập vào nước ta vào cuối thập niên 1990, hiện chiếm khoảng 59% gà thịt lông màu nhập nội, nhờ các ưu điểm như khả năng sinh trưởng (KNST) tốt, chất lượng thịt (CLT) thơm ngon và năng suất trứng (NST) khá (Tiến Thành, 2015). Nhiều nghiên cứu đã đánh giá khả năng sản xuất của gà LP (Tiến Thành, 2015) cũng như con lai giữa LP với Đông Tảo (Nguyễn Văn Duy và ctv, 2020), gà Ri (Dương Thanh Hải và ctv, 2024),… trong điều kiện chăn nuôi khác nhau. Tuy nhiên, cho tới nay rất ít đánh giá về NSSS của gà LP, cũng như những vấn đề liên quan tới phúc lợi động vật trong hệ thống chăn nuôi công nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá NSSS và một số chỉ tiêu phúc lợi động vật của gà LP đẻ trứng giống nuôi lồng.

Gà Lương Phượng (LP) là giống gà lông màu có nguồn gốc từ Trung Quốc
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm
Tổng số 600 gà mái LP đẻ trứng giống được nuôi lồng từ tháng 01 tới tháng 6/2025 tại trại gà bố mẹ của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Tân Việt Tây Bắc, xã An Bình, tỉnh Phú Thọ.
2.2. Phương pháp
Đàn gà mái LP đẻ trứng giống khỏe mạnh, khối lượng (KL) 2,3±0,3 kg/con, được lựa chọn để nuôi lồng (2 con/lồng) kích thước 36x40x40cm. Các lồng đặt trong chuồng kín theo 4 dãy chuồng 2 mặt, mỗi mặt 50 khung, mỗi khung 6 lồng. Chuồng có hệ thống làm mát, thông gió, chế độ chiếu sáng và nước uống tự động, hệ thống băng truyền hứng phân. Thức ăn sử dụng do Công ty CP Công nghệ sinh học Tân Việt sản xuất và gà được cho ăn thủ công. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn được ghi trong bảng 1.
Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng thức ăn
|
Chỉ tiêu dinh dưỡng |
Giá trị |
|
Vật chất khô (%) |
88 |
|
Năng lượng trao đổi (kcal ME/kg) |
2.600 |
|
Protein thô (%) |
15 |
|
Xơ thô (%, tối đa) |
4 |
|
Canxi (%) |
2,8-3,5 |
|
Photpho (%) |
0,55-1,20 |
|
Lysine (%) |
0,80 |
|
Methionine+Cystine (%, tối thiểu) |
0,35 |
|
Threonine (%) |
0,57 |
Các gà mái được thụ tinh nhân tạo 2 lần/tuần với tinh dịch giống Ri. Gà được chăm sóc, nuôi dưỡng và tiêm phòng vaccine theo quy trình kỹ thuật của công ty. Theo dõi trong 22-40TT (TT) với các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
Tuổi thành thục: Theo dõi các thời điểm gà đẻ quả trứng đầu, tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% và 50%;
Tỷ lệ chết và loại thải: Hàng ngày kiểm tra, ghi lại số lượng gà chết và loại thải;
KL cơ thể: Cân toàn bộ gà lúc 25 và 40TT bằng cân đồng hồ (độ chính xác ±10g);
Tỷ lệ đẻ và NST: Thu trứng hàng ngày để tính tỷ lệ đẻ/tuần (%) và NST tích lũy (quả/mái);
TTTA: Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày để tính TTTA/10 quả trứng giống;
Kết quả ấp nở: Từ số trứng giống đủ tiêu chuẩn đem ấp, số gà nở ra và số gà con loại 1 để tính tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ gà con loại 1;
Chọn ngẫu nhiên 50 cá thể ở tuổi 25 ở các lồng để đánh giá một số chỉ tiêu sức khỏe và thể trạng theo phương pháp Welfare Quality (2009):
Tình trạng bộ lông: Đánh giá bộ lông ở các phần đầu, lưng, ngực, bụng; cho điểm từ 1 đến 5 theo tình trạng lông rụng, dính bết;
Tổn thương xương ức: Dùng tay vuốt từ ngã 3 xương lưỡi hái trở xuống, cho điểm từ 1 đến 5 theo mức độ biến dạng như cong vẹo hoặc lõm;
Tổn thương mào: Kiểm tra mào, cho điểm từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất) theo màu sắc, kích thước và các tổn thương do bị mổ cắn;
Tổn thương bàn chân: Kiểm tra bàn chân, cho điểm từ 1 đến 5 theo mức độ tổn thương như sưng to, hình thành chai.
2.3. Xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý thông kê bằng phần mềm Excel 2016 và Minitab 16. Kết quả được trình bày dưới dạng Mean±SD.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Bảng 1. Tuổi thành thục sinh dục (n=600)
|
Chỉ tiêu theo dõi |
Ngày tuổi |
|
Tuổi đẻ |
160±1,03 |
|
Tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5% |
169±1,21 |
|
Tuổi đẻ đạt tỷ lệ 50% |
185±1,52 |
|
Tuổi đẻ đạt tỷ lệ đỉnh cao |
223±2,36 |
Bảng 1 cho thấy tuổi đẻ đạt 5 và 50% lần lượt là 160 và 185 ngày. Nguyễn Huy Đạt và ctv (2005) cho biết gà LP tại trại Liên Ninh đẻ ở 143 ngày tuổi. Như vậy, so với công bố này, gà LP có tuổi đẻ quả trứng đầu muộn hơn. Sự khác biệt về quy trình chăn nuôi trong giai đoạn gà hậu bị là nguyên nhân dẫn đến những chênh lệch về tuổi đẻ nêu trên. Tuy nhiên, sự khác biệt nhất định này không là không nhiều khi xem xét tới giá trị của các sai số đối với các số liệu đã nêu.
Khối lượng cơ thể theo dõi (Bảng 2) là phù hợp với tiêu chuẩn Công ty đề ra. Hệ số biến động thấp (<4%) cho thấy đàn gà có độ đồng đều cao, chất lượng con giống tốt và kỹ thuật chăm sóc thích hợp. Với số lượng 600 gà mái đẻ 25TT lúc bắt đầu theo dõi và khi kết thúc theo dõi lúc 40TT còn 591 con, như vậy, tỷ lệ hao hụt đàn là 1,50% chứng tỏ đàn gà thích ứng tốt với điều kiện chăn nuôi của cơ sở.
Bảng 2. Khối lượng cơ thể (g/con, n=600)
|
Tuần tuổi |
Mean±SE |
CV (%) |
|
Tuần 25 |
2540,5 ± 11,7 |
3,56 |
|
Tuần 40 |
2867,0 ± 10,6 |
2,87 |
Tỷ lệ đẻ của đàn gà tăng nhanh và đạt đỉnh cao 73,14% ở tuần thứ 32. Đặng Thúy Nhung và Phạm Thị Kim Thoa (2013) khi nghiên cứu bổ sung canxi butyrat cho gà LP đẻ trứng giống cho biết: tỷ lệ đẻ đạt đỉnh ở TT 32 (78,93-84,89%). Phạm Sỹ Phương và ctv (2013) bổ sung natri butyrate cho gà LP đẻ trứng giống cho biết tỷ lệ đẻ đỉnh ở TT 31-32 đạt 75,49-80,10%. Nguyễn Huy Đạt và ctv (2005) cho biết gà LP đẻ sớm hơn: bắt đầu đẻ ở 143 ngày tuổi, đạt đỉnh ở 30TT. Như vậy, các công bố này cho thấy tỷ lệ đạt đỉnh đẻ này sớm hơn và tỷ lệ đẻ cũng cao hơn so với các dữ liệu thu được trong bảng 3.
Bảng 3. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng theo tuổi
|
Tuổi (tuần) |
TLĐ (%) |
NST tích lũy (quả/mái) |
TL trứng giống (%) |
|
25 |
10,93 |
0,77 |
0 |
|
26 |
31,72 |
2,99 |
0 |
|
27 |
51,70 |
6,60 |
97,33 |
|
28 |
63,77 |
11,07 |
99,02 |
|
29 |
71,52 |
16,07 |
99,07 |
|
30 |
72,91 |
21,18 |
98,65 |
|
31 |
72,65 |
26,26 |
99,04 |
|
32 |
73,14 |
31,38 |
98,75 |
|
33 |
72,89 |
36,49 |
98,68 |
|
34 |
72,11 |
41,53 |
98,83 |
|
35 |
71,98 |
46,57 |
98,73 |
|
36 |
71,45 |
51,57 |
98,49 |
|
37 |
72,65 |
56,66 |
98,97 |
|
38 |
72,63 |
61,74 |
98,54 |
|
39 |
69,96 |
66,64 |
98,41 |
|
40 |
68,64 |
71,45 |
98,35 |
Sau khi đạt đỉnh, tỷ lệ đẻ giảm dần 38 và 40TT tương ứng là 72,63 và 68,64%, trong khi đó tỷ lệ đẻ của gà trong TN của Đặng Thúy Nhung và Phạm Thị Kim Thoa (2013) công bố giảm nhanh hơn (40TT dao động 58-62%).
Hiệu quả sử dụng thức ăn được thể hiện qua bảng 4 cho thấy từ 27 tới 40TT, TTTA trung bình/10 trứng giống là 2,06kg. Theo Phạm Sỹ Phương và ctv (2013), TTTA/10 trứng giống trong thời gian 25-45TT dao động 2,49-2,55kg. Phạm Nguyễn Minh Phương và Đặng Thúy Nhung (2013) cho thấy TTTA/10 trứng giống trong thời gian 25-40TT là 2,32-2,47kg.
Bảng 4. Lượng TA thu nhận và tiêu tốn thức ăn
|
Tuổi (tuần) |
TATN (g/con/tuần) |
TTTA (kg/10 trứng giống) |
|
25 |
130,56±0,78 |
– |
|
26 |
135,19±0,48 |
– |
|
27 |
140,54±0,67 |
2,79 |
|
28 |
142,38±0,64 |
2,25 |
|
29 |
144,05±0,83 |
2,03 |
|
30 |
144,05±1,38 |
2,01 |
|
31 |
144,05±1,52 |
2,01 |
|
32 |
144,05±1,34 |
2,00 |
|
33 |
144,54±0,78 |
2,01 |
|
34 |
142,93±0,55 |
2,01 |
|
35 |
139,73±0,88 |
1,97 |
|
36 |
139,73±0,92 |
1,99 |
|
37 |
137,80±0,74 |
1,92 |
|
38 |
136,82±1,12 |
1,91 |
|
39 |
135,20±1,08 |
1,96 |
|
40 |
135,20±0,92 |
2,01 |
|
TB |
140,79±0,96 |
2,06 |
Tỷ lệ ấp nở trung bình đạt 89,26%, tỷ lệ gà loại 1 đạt 88,02%. Nghiên cứu của Đặng Thúy Nhung và Phạm Thị Kim Thoa (2013) cho biết tỷ lệ nở là 74,50-79,29%, gà loại 1 là 70,91-76,89%. Theo Phạm Sỹ Phương và ctv (2013), tỷ lệ nở là 84,22-86,07%, gà loại 1 là 91,54-94,85%. Kết quả cho thấy trứng gà LP giống theo dõi được có chất lượng tốt. Các kết quả về tình trạng hình thái cơ thể gà cung cấp bằng chứng thực tiễn cho việc giám sát và thực thi quyền phúc lợi động vật đối với gia cẩm nuôi lồng, tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Luật Chăn nuôi 2018.
Đàn gà sau khi nuôi nhốt 7 tuần đã có các tổn thương ở chân, mào và xương ức. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu hình thái liên quan tới phúc lợi động vật (PLĐV) cho thấy 100% gà có bộ lông đạt điểm tuyệt đối (5/5 điểm), chứng tỏ gà khỏe mạnh, không có hiện tượng cắn mổ lông. Tỷ lệ gà bị tổn thương nghiêm trọng (mức điểm 1) ở các bộ phận chân, mào và xương ức thấp, dao động 4-6%. Theo Hán Quang Hạnh và Đặng Thúy Nhung (2025) tình trạng bộ lông của gà mái lông trắng đẻ trứng thương phẩm nuôi nhốt truyền thống và nuôi thả tự do có tỷ lệ điểm 2 (có một hoặc nhiều vùng mất lông với đường kính trên 5cm) ở đẻ đỉnh cao 27TT lần lượt là 79,33 và 71,33% và tỷ lệ viêm da đệm bàn chân đạt điểm 1 lần lượt là 11,33 và 46,0%.
Bảng 5. Tỷ lệ ấp nở (27-40 tuần tuổi)
|
Tuổi (tuần) |
Số trứng ấp (quả) |
Tỷ lệ nở (%) |
Tỷ lệ gà loại 1 (%) |
|
27 |
2107 |
84,24 |
82,82 |
|
28 |
2639 |
87,23 |
85,64 |
|
29 |
2961 |
89,36 |
88,45 |
|
30 |
3001 |
90,27 |
88,30 |
|
31 |
3002 |
90,44 |
89,61 |
|
32 |
3011 |
90,67 |
89,84 |
|
33 |
2996 |
90,19 |
89,19 |
|
34 |
2967 |
90,50 |
89,65 |
|
35 |
2955 |
90,22 |
88,05 |
|
36 |
2926 |
89,88 |
88,17 |
|
37 |
2983 |
89,05 |
88,11 |
|
38 |
2966 |
89,01 |
88,06 |
|
39 |
2852 |
89,13 |
88,18 |
|
40 |
2793 |
89,44 |
88,15 |
|
TB |
89,26 |
88,02 |
Bảng 6. Chỉ tiêu hình thái liên quan PLĐV (n=50)
|
Điểm |
Lông n (con) |
Lông % |
Chân n (con) |
Chân % |
Mào n (con) |
Mào % |
Xương ức n (con) |
Xương ức % |
|
5 |
50 |
100 |
18 |
36 |
21 |
42 |
22 |
44 |
|
4 |
0 |
0 |
15 |
30 |
16 |
32 |
15 |
30 |
|
3 |
0 |
0 |
10 |
20 |
6 |
12 |
6 |
12 |
|
2 |
0 |
0 |
5 |
10 |
4 |
8 |
5 |
10 |
|
1 |
0 |
0 |
2 |
4 |
3 |
6 |
2 |
4 |
4. KẾT LUẬN
Gà LP giống tại trại gà bố mẹ của Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Tân Việt Tây Bắc, Hòa Bình nuôi công nghiệp trong lồng có NSSS tương đối tốt: TL chết và loại thải thấp (1,50%), TL đẻ đạt đỉnh cao 32TT, NST lúc 40TT đạt 71,45 quả/mái, TTTA 2,06kg, TL nở 89,26%. Đánh giá về PLĐV sau khi nuôi 7 tuần: bộ lông đạt điểm cao, TL tổn thương nặng về chân, mào và xương ức thấp.
Đặng Thúy Nhung¹, Hán Quang Hạnh¹, Đặng Vũ Hòa², Nguyễn Ngọc Lương² và Bùi Trần Anh Đào¹*
¹ Học viện Nông nghiệp Việt Nam
²Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam
* Tác giả liên hệ: PGS.TS. Bùi Trần Anh Đào, Khoa Thú y,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam, ĐT: 0986742798; Email:
btadao@vnua.edu.vn
Xem thêm:
Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp gà lai kinh tế 3 giống (Mía – Hồ – Lương phượng)
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn anh Trương Long Vân-GĐ Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Tân Việt Tây Bắc và CBCNV đã tạo mọi điều kiện và sinh viên Trương Thu An đã tham gia thực hiện thí nghiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Chí Thành và Vũ Đình Tốn (2020). Năng suất sinh sản và chất lượng trứng của gà mái Đông Tảo và F1 (Đông Tảo x Lương Phượng). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 18(4): 255-261.
2. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thành Đồng và Phạm Bích Hường (2005). Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà Lương Phượng. Tạp chí NNVPTNT, 2(5): 46-49.
3. Duong Thanh Hai, Phan Thi Hang, Nguyen Thi Thuong and Zábranský L. (2024). Effect of fermented rice bran and maize by Saccharomyces cerevisiae on carcass characteristics and amino acid contents of chickens. Adv. Anim. Vet. Sci., 12(7):1404-09.
4. Đặng Thúy Nhung và Phạm Thị Kim Thoa (2013). Bổ sung canxi butyrat cho gà Lương Phượng đẻ trứng giống. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 167(2): 29-34.
5. Han Quang Hanh and Dang Thuy Nhung (2025). Assessment of the Welfare Quality of Commercial Laying Hens Kept in Conventional Cage and Deep Litter Systems at Different Ages. Vietnam J. Agr. Sci., 8(3): 2452-63.
6. Phạm Nguyễn Minh Phương, Đặng Thúy Nhung (2013). Bổ sung canxi butyrat vào khẩu phần gà Lương Phượng đẻ trứng giống. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 171(6): 23-29.
7. Phạm Sỹ Phương, Trần Văn Lượng và Đặng Thúy Nhung (2013). Hiệu quả của việc bổ sung natributyrate cho gà Lương Phượng đẻ trứng giống. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 175: 49-55.
8. Tiến Thành (2015). Giống gà Lương Phượng. Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam. https://nhachannuoi.vn/giong-ga-luong-phuong.
- phúc lợi động vật li>
- khả năng sinh sản li>
- Giống gà Lương Phượng li>
- giống nuôi lồng li> ul>
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Phân biệt giới tính phôi gia cầm trong trứng tiến bộ công nghệ hướng tới phúc lợi động vật và sản xuất bền vững
- Gia cầm Việt Nam trước ngưỡng 2027: Không thể mãi cạnh tranh bằng “giá rẻ”
- Thúc đẩy chăn nuôi heo bền vững thông qua công nghệ chọn giống và cải tiến di truyền
- Hoa Kỳ: Kiểm soát an toàn TĂCN nuôi theo mô hình 7 lớp phòng ngừa
- Tỷ lệ Arginine/Lysine cần thiết để cải thiện thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng
- Khai phá tiềm năng: Tryptophan – Giải pháp toàn diện cho năng suất gà đẻ và phúc lợi gà giống
- Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi
- Ånh hưởng của chế phẩm Bio-Lacto đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà H’mông
- Những thách thức trong chăn nuôi ảnh hưởng đến chất lượng thịt gà
Tin mới nhất
T7,10/10/2026
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
- Giá heo hơi ngày 10/10 giảm còn 51.000 đồng/kg, áp lực thị trường gia tăng
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Khoa Chăn nuôi (VNUA) kỷ niệm 70 năm: Giữ lửa truyền thống, thắp sáng tương lai
- Sinh viên Chăn nuôi – Thú y trước yêu cầu mới của thị trường lao động
- Khoa Thú y (VNUA) 70 năm thành lập: Kết nối thế hệ – Dẫn dắt tương lai
- Đồng Nai khởi tố 2 bị can trong vụ 2.349 con heo chứa chất cấm
- Nữ sinh Việt và dự án “Giải bài toán lao động thủ công trong chăn nuôi bò”
- Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ANOVA Agri ký kết hợp tác giai đoạn 2026–2030
- Giá heo hơi ngày 9/10: Thị trường chạm đáy mới, người nuôi thêm áp lực
- Ngành gia cầm Malaysia: Hướng tới tăng năng lực sản xuất và ứng dụng công nghệ
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng






















Bình luận mới nhất