Trương Quang Lâm, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Thu Hương
Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y
Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tính cấp thiết:
Bệnh Glasser được mô tả lần đầu tiên bởi Glasser vào năm 1910 (Nedbalcov K và cs., 2006). Năm 1976, Kilian và cs đã nghiên cứu phân loại và đặt tên vi khuẩn là Haemophilus parasuis, là một vi khuẩn nhỏ, đa hình thái, có tiêm mao và giáp mô, phụ thuộc vào yếu tố NAD-Nicotinamide adenine dinucleotide, hiếu khí hay yếm khí tùy ý, không gây dung huyết, trực khuẩn hình que gram âm, thuộc họ Pasteurellaceae, là tác nhân gây bệnh Glasser trên lợn. Cho đến nay đã có 15 type huyết thanh (serotypes) đã được ghi nhận, trong đó một số serotype có độc lực và tỷ lệ tử vong cao như serotype 1, 5, 10, 12, 13 và 14; serotype 2, 4, 8 và 15 có độc lực thấp gây bệnh trên lợn; serotype 3, 6, 7, 9 và 11 được coi là không có độc lực (Nedbalcov và cs., 2006).
Mục đích nghiên cứu:
Bệnh Glasser xảy ra rất phổ biến ở nhiều tỉnh/thành miền Bắc theo nghiên cứu của Trương Quang Lâm và cs. (2019) cho thấy tỉ lệ nhiễm H.parasuis trên các mẫu lợn nghi mắc bệnh Glasser tại một số trại lợn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Hưng Yên và Hà Nam ở mức cao chiếm 53,6% đối với lợn có triệu chứng lâm sàng. Các nghiên cứu phân lập, đánh giá khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn H.parasuis còn rất hạn chế và cần thiết được quan tâm. Vì vậy, các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm trọng điểm CNSH Thú y, khoa Thú y đã tiến hành phân lập vi khuẩn gây bệnh Glasser trên lợn tại một số tỉnh miền Bắc và xác định tính mẫn cảm của các chủng phâm lập được với kháng sinh thường dùng để xây dựng phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu đã phân lập được 31 chủng từ 58 mẫu bệnh phẩm lợn nghi mắc bệnh thuộc địa bàn các tỉnh/thành: Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Thanh Hóa. Chủng vi khuẩn H.parasuis phân lập được có kích thước nhỏ, trong suốt, không dung huyết, bắt màu gram âm, trực khuẩn mảnh, đa hình thái, với các đặc tính sinh hóa là catalase, oxidase dương tính, indol, urease âm tính (phụ thuộc yếu tố V), có khả năng V), có khả năng lên men đường glucose, sucrose, fructose, không có khả năng lên men đường mannitol và lactose, không mọc trên môi trường Maconkey. Cả 31 chủng phân lập được cho kết quả giám định PCR dương tính với H.parasuis. Kết quả đánh giá tính mẫn cảm kháng sinh cho thấy các chủng vi khuẩn H.parasuis mẫn cảm cao với cefotsxime, cefuroxime, xeftiofur, amoxicillin/clavulanic acid, florfenicol. Tuy nhiên hầu hết các chủng kiểm tra đều kháng trimethoprime/sulfamethoxazol, penicillin và tilmicosin. Các chủng vi khuẩn này mẫn cảm tương đối cao với các loại kháng sinh tổng hợp lần lượt là florfenicol-doxycycline, penicillin-streptomycin, gentamicin-tylosin. Kết quả nghiên cứu sẽ là tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo về các serotype gây bệnh chính, độc lực; đóng vai trò quan trọng và cấp thiết trong công tác phòng chống và ngăn chặn mầm bệnh.

Hình 1. Hình ảnh bệnh tích điển hình ở lợn mắc bệnh Glasser do vi khuẩn H.parasuis gây ra (A) Viêm màng phổi phủ fibrin; (B) Bệnh tích đại thể lợn nhiễm bệnh Glasser; (C) Hình thái chủng vi khuẩn H.parasuis phân lập được, vi khuẩn bắt màu Gram âm, trực khuẩn dạng sợi nhỏ mảnh dài; (D) Kết quả định danh các chủng H.parasuis bằng phản ứng PCR
Link bài báo: https://vjol.info.vn/index.php/kk-ty/article/view/67259/56833
Xem thêm:
Bệnh do Haemophilus Parasuis ở lợn
- Bệnh Glasser’s li>
- Haemophilus Parasuis li> ul>
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
- Ứng dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi lợn: Giải pháp thay thế kháng sinh và nâng cao hiệu quả sản xuất
- Hiện trạng và lỗ hổng an toàn sinh học trong chăn nuôi heo thời kỳ hậu dịch tả heo Châu Phi
- Grooming cho chó, mèo: Không chỉ là làm đẹp
- Đồng nhiễm H9N2 và IBV trên gia cầm: Thách thức và giải pháp phòng ngừa toàn diện
- Khánh Hòa: Đưa sản phẩm dê, cừu vào thị trường Halal
- Công nghệ bảo quản thông minh: Định hình tương lai an toàn TĂCN
- Đại học Tây Nguyên tăng cường đào tạo thú y thú nhỏ gắn với thực tiễn
- Nghệ An: “Nuôi sạch, sống xanh” câu chuyện của người nông dân thời đại mới
- VSAVA và Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM: Triệt sản miễn phí cho hơn 100 chú mèo
Tin mới nhất
T4,16/09/2026
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 15/9/2026
- Giá heo hơi ngày 15/9: Miền Bắc trở lại mốc 60.000 đồng/kg
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
- AAAP 2026: Hơn 1.400 đại biểu đăng ký, trọng tâm phát triển chăn nuôi bền vững
- Giá heo hơi ngày 14/9: Chưa vượt lại mốc 60.000 đồng/kg
- Chế phẩm EB-L được thử nghiệm trong chăn nuôi heo tại Gia Lai
- Giá heo hơi ngày 12/9: Đà giảm lan rộng, giá phổ biến từ 57.000–59.000 đồng/kg
- Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản: Những quy định cần lưu ý
- Công ty NAPHA thông báo tuyển dụng nhân viên kinh doanh
- Công ty CP Nông sản Phú Gia đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong chăn nuôi gà giống
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An






















Bình luận mới nhất