Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 59.300 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 57.600 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 58.000 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 74.800 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 42.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 43.700 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 32.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 29.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 29.000 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 45.300 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 39.100 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 37.600 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.100 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.880 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.730 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.050 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.080 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 2.090 đ/quả
    •  
  • Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được thực hiện để xác định nhu cầu lysine cho gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn 43-63 và 64-84 ngày tuổi. Thí nghiệm được thực hiện tại Suranaree University of Technology, Thái Lan. Trong mỗi giai đoạn thí nghiệm, tổng số 480 con gà Korat được bố trí ngẫu nhiên vào 5 nghiệm thức khẩu phần với 6 lần lặp lại (16 con/đơn vị thí nghiệm) trong bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Ở cả 2 giai đoạn thí nghiệm, gà được cho ăn 5 mức độ lysine tổng số là 0,77; 0,87; 0,97; 1,07 và 1,17%. Kết quả cho thấy, gà Korat có phản ứng đáng kể (P<0,05) với các mức độ lysine khẩu phần khác nhau trong các chỉ tiêu được đo lường như tăng khối lượng tích lũy và hệ số chuyển hóa thức ăn, trong khi sự thay đổi lượng lysine khẩu phần không ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào của gà Korat. Nhu cầu lysine được xác định bằng cách sử dụng “Broken-line regression analysis” đối với gà giai đoạn 43-63 và 64-84 ngày tuổi lần lượt là 1,01 và 0,95%.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Nhu cầu toàn cầu về thịt trắng ngày càng tăng đã thúc đẩy ngành công nghiệp gia cầm hướng tới các biện pháp tăng sản lượng. Lý do thịt trắng như thịt gà được coi là tốt cho sức khỏe hơn so với thịt đỏ (thịt lợn, thịt bò, thịt dê) là do hàm lượng chất béo, cholesterol và sắt tương đối thấp hơn (Jaturasitha và ctv, 2008). Ngoài ra, thịt gà là loại thịt có giá thành thấp. Tuy nhiên, sự tiêu thụ thịt gà tăng nhanh này dựa trên một vài giống gà thịt tăng trưởng nhanh được các công ty chăn nuôi sản xuất trong các hệ thống vỗ béo thâm canh. Một cuộc tranh luận công khai về việc sử dụng gà thịt tăng trưởng nhanh đang diễn ra ở một số quốc gia (Trung Quốc, Ý, Nhật Bản, Botswana, Việt Nam và Thái Lan, cùng nhiều nước khác) do có xu hướng hướng tới việc sản xuất thịt gà tăng trưởng chậm (Chen và ctv, 2008; Rikimaru và Takahashi, 2010; Kgwatalala và ctv, 2013; Lan Phuong và ctv, 2015; Zotte và ctv, 2019ab) do thịt của giống gà thịt tăng trưởng chậm có ít mỡ hơn nhưng nhiều protein và có độ dai hơn (Yongsawatdigul và ctv, 2016), hoạt tính chống oxy hóa cao hơn (Sangsawad và ctv, 2016) so với gà thịt thương phẩm tăng trưởng nhanh. Ngoài ra, gà thịt tăng trưởng chậm có thể thích nghi tốt với nhiệt độ cao khi được nuôi trong chuồng hở, thông gió tự nhiên. Vì những lý do trên, giống gà này hiện được phân bố rộng rãi không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

    Nhu cầu toàn cầu về thịt trắng ngày càng tăng đã thúc đẩy ngành công nghiệp gia cầm hướng tới các biện pháp tăng sản lượng.

     

    Để gia cầm thể hiện tối đa tiềm năng di truyền của chúng thì khẩu phần phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của chúng. Nhu cầu năng lượng và protein thô của gà thịt tăng trưởng chậm đã được Maliwan và ctv (2018, 2019, 2022) xác định. Tuy nhiên, nhu cầu protein thực chất là nhu cầu về các axit amin có trong protein khẩu phần. Việc xây dựng khẩu phần dựa trên axit amin không chỉ đảm bảo tăng trưởng tối ưu mà còn giảm thiểu lượng nitơ thải ra môi trường. Hơn nữa, việc ước tính chính xác nhu cầu lysine (Lys) cũng trở nên quan trọng, vì nó được coi là axit amin tham chiếu cho các axit amin thiết yếu khác (Baker và Han, 1994; Baker và ctv, 2002). Theo Baker và Han (1994), có ba lý do chính tại sao Lys được chọn là một loại axit amin lý tưởng mặc dù nó là axit amin hạn chế thứ hai. Thứ nhất, không giống như một số axit amin khác (methionine, cystine và tryptophan), Lys được hấp thụ chỉ được sử dụng để tích lũy protein. Thứ hai, việc phân tích Lys trong thức ăn chăn nuôi, khác với tryptophan và các axit amin chứa lưu huỳnh, tương đối đơn giản và dễ dàng. Cuối cùng, có một lượng lớn dữ liệu về Lys ở gia cầm. Vì những lý do đó, Lys đã được chọn làm axit amin tham chiếu cho khái niệm “protein lý tưởng”, dựa trên nồng độ axit amin trong khẩu phần theo tỷ lệ cố định so với Lys. Nhu cầu Lys của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn (GĐ) 1-21 ngày tuổi (NT) và GĐ 22-42NT được xác định bởi các nghiên cứu của chúng tôi (Trần Hồng Định và Hồ Thúy Hằng, 2022; Trần Hồng Định, 2025). Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ước tính mức Lys khẩu phần tối ưu cho gà thịt tăng trưởng chậm trong 2 GĐ 43-63 và 64-84NT.

     

    2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    2.1. Vật liệu

     

    Thí nghiệm (TN) được thực hiện tại trường Suranaree University of Technology, Thái Lan. Chuồng nuôi gà là chuồng hở, thông thoáng tự nhiên, nền bê tông, mái tole, vách chuồng là lưới kẽm và được bao phủ bởi tấm bạc cao su để có thể điều chỉnh hạ xuống vào ban đêm hay lúc mưa lớn, gió mạnh vào ban ngày và nâng lên vào ban ngày khi trời nắng nóng cần tạo thông thoáng tốt cũng như giảm nóng cho gà. Trấu được sử dụng làm chất độn chuồng để nuôi gà TN. Chuồng trại được vệ sinh và sát trùng cẩn thận trước khi nuôi gà TN. Mỗi ô chuồng được bố trí vòi uống tự động để cung cấp nước uống cho gà và máng ăn treo được sử dụng để cung cấp thức ăn cho gà trong suốt thời gian TN.

     

    Giai đoạn (GĐ) 43-63NT, tổng số 500 con 1NT được cho ăn thức ăn hỗn hợp (TAHH) có mức năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) là 2.980 kcal/kg và 21,26% đến 21NT. Sau đó, gà được cho ăn khẩu phần chứa 3.150 kcal ME/kg và 20,45% CP đến 42NT. Vào NT thứ 43, 480 con gà (trống mái bằng nhau) được phân bổ ngẫu nhiên vào 5 nhóm khẩu phần (KP) ăn khác nhau (Bảng 1) với 6 lần lặp lại (16 con/lần lặp lại).

     

    Giai đoạn 64-84NT, tổng số 496 con 1NT được cho ăn TAHH có 2.980 kcal ME/kg và 21,26% CP đến 21NT. Sau đó, gà được cho ăn khẩu phần chứa 3.150 kcal ME/kg và 20,45% CP cho đến 42NT. Tiếp theo, gà được cho ăn KP chứa 3200 kcal ME/kg và 18,00% CP cho đến 63NT. Vào NT thứ 64, 480 con gà (tỷ lệ trống mái bằng nhau) được phân bổ ngẫu nhiên vào 5 nhóm KP ăn (Bảng 1) với 6 lần lặp lại (16 con gà/lần lặp lại).

     

    Trong mỗi GĐ có 5 nghiệm thức (NT) tương ứng với 5 mức độ Lys KP là 0,77; 0,87; 0,97; 1,07 và 1,17%. Các nguyên liệu thức ăn (TA) được phân tích CP và axit amin (Lys, Met, Cys, Thr, Arg, Ile, Val, Leu, His và Phe) trước khi phối hợp KP. Các KP được phối trộn từ các nguyên liệu TA (Bảng 1) và thành phần hóa học (TPHH) của KP được thể hiện trong bảng 2 để cung cấp đủ mức ME 3.200 kcal/kg và CP 18% được đề nghị bởi Maliwan và ctv (2019, 2022). Các thành phần dinh dưỡng (TPDD) trong KP được xây dựng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo khuyến cáo bởi NRC (1994), ngoại trừ Lys. L-axit glutamic và bột bắp được sử dụng để thay thế của Lys để duy trì ME và CP như nhau trong các KP TN.

     

    Bảng 1. Thành phần nguyên liệu TA (%) của TN

     

    Thành phần (%)

    Mức Lys KP (%) – 0,77

    Mức Lys KP (%) – 0,87

    Mức Lys KP (%) – 0,97

    Mức Lys KP (%) – 1,07

    Mức Lys KP (%) – 1,17

    Bắp vàng

    62,07

    62,07

    62,07

    62,07

    62,07

    Bánh dầu đậu nành

    20,40

    20,40

    20,40

    20,40

    20,40

    Bắp gluten

    3,20

    3,20

    3,20

    3,20

    3,20

    Dầu cám

    2,51

    2,51

    2,51

    2,51

    2,51

    CaCO₃

    1,57

    1,57

    1,57

    1,57

    1,57

    CaH₄P₂O₈

    0,99

    0,99

    0,99

    0,99

    0,99

    NaCl

    0,44

    0,44

    0,44

    0,44

    0,44

    Premix¹

    0,50

    0,50

    0,50

    0,50

    0,50

    L-axit glutamic 99%

    0,80

    0,60

    0,40

    0,20

    0,00

    Bột bắp

    6,07

    6,14

    6,22

    6,29

    6,37

    L-Lys HCl 78%

    0,00

    0,13

    0,25

    0,38

    0,50

    DL-Met 99%

    0,26

    0,26

    0,26

    0,26

    0,26

    L-Thr 98,5%

    0,43

    0,43

    0,43

    0,43

    0,43

    L-Arg 99%

    0,37

    0,37

    0,37

    0,37

    0,37

    L-Ile 99%

    0,18

    0,18

    0,18

    0,18

    0,18

    L-Val 99%

    0,15

    0,15

    0,15

    0,15

    0,15

    L-Trp 98,5%

    0,06

    0,06

    0,06

    0,06

    0,06

    Tổng

    100

    100

    100

    100

    100

     

    Premix (0,5%) cung cấp (trong 1kg KP): vitamin A 15.000IU; vitamin D3 3.000IU; vitamin E 25IU; vitamin K3 5mg; vitamin B1 2mg; vitamin B2 7mg; vitamin B6 4mg; vitamin B12 25mg; axit pantothenic 11,04mg; axit nicotinic 35mg; axit folic 1mg; biotin 15µg; choline chloride 250mg; Cu 1,6mg; Mn 60mg; Zn 45mg; Fe 80mg; I 0,4mg; Se 0,15mg.

     

    Gà được tiêm vắc-xin phòng bệnh Marek (FATRO S.p.A., Bologna, Ý) tại trại giống. Vào ngày 7 và 21, gà được nhỏ mắt và mũi vắc-xin phòng bệnh Newcastle và viêm phế quản truyền nhiễm (FATRO S.p.A., Bologna, Ý); ngày 14, gà được uống vắc-xin phòng bệnh Gumboro (FATRO S.p.A., Bologna, Ý); ngày 28, sử dụng vắc-xin phòng bệnh đậu (FATRO S.p.A., Bologna, Ý).

     

    2.2. Phương pháp

     

    2.2.1. Bố trí thí nghiệm và phân tích

     

    Thí nghiệm (TN) được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức (NT) và 6 lần lặp lại với 16 con/đơn vị TN.

     

    2.2.2. Thu thập mẫu và số liệu

     

    Thức ăn (TA) được lấy mẫu sau khi phối trộn. Mẫu TA được bảo quản ở -20 °C đến khi phân tích. Khối lượng cơ thể (KL) gà được ghi nhận ở đầu và cuối TN. Thức ăn thừa cũng được thu thập.

     

    Bảng 2. Thành phần hóa học của KP TN

     

    Thành phần dinh dưỡng

    Mức Lys KP (%) – 0,77

    Mức Lys KP (%) – 0,87

    Mức Lys KP (%) – 0,97

    Mức Lys KP (%) – 1,07

    Mức Lys KP (%) – 1,17

    Được tính toán

             

    ME, kcal/kg

    3.200

    3.201

    3.202

    3.203

    3.204

    CP, %

    18,00

    18,00

    18,00

    18,00

    18,00

    Lys, %

    0,77

    0,87

    0,97

    1,07

    1,17

    Met, %

    0,54

    0,54

    0,54

    0,54

    0,54

    Met + Cys, %

    0,83

    0,83

    0,83

    0,83

    0,83

    Thr, %

    0,93

    0,93

    0,93

    0,93

    0,93

    Arg, %

    1,36

    1,36

    1,36

    1,36

    1,36

    Ile, %

    0,86

    0,86

    0,86

    0,86

    0,86

    Val, %

    0,98

    0,98

    0,98

    0,98

    0,98

    Leu, %

    1,61

    1,61

    1,61

    1,61

    1,61

    His, %

    0,54

    0,54

    0,54

    0,54

    0,54

    Phe, %

    0,80

    0,80

    0,80

    0,80

    0,80

    Trp, %

    0,23

    0,23

    0,23

    0,23

    0,23

    Ca, %

    0,82

    0,82

    0,82

    0,82

    0,82

    P hữu dụng, %

    0,31

    0,31

    0,31

    0,31

    0,31

    Được phân tích

             

    DM, %

    91,38

    91,52

    91,52

    91,51

    91,53

    CP, %

    18,19

    18,00

    18,20

    18,17

    17,97

    EE, %

    1,96

    2,02

    1,98

    2,05

    1,93

    EE, %

    5,19

    5,09

    5,12

    5,11

    5,07

    Ash, %

    4,96

    5,02

    4,93

    5,06

    4,93

     

    2.2.3. Phân tích hóa học

     

    Vật chất khô (DM) và xơ thô (CF) được xác định theo AOAC (1990); hàm lượng CP và chiết xuất béo (EE) được phân tích theo AOAC (2006); hàm lượng Ash được xác định theo Thiex và ctv (2012); Axit amin bắp vàng, bánh dầu đậu nành và Bắp gluten được phân tích theo AOAC (2000).

     

    2.3. Xử lý số liệu

     

    Số liệu thu thập được thực hiện bằng ANOVA theo GLM trên phần mềm SPSS 18.0. Khi ảnh hưởng của các NT khác biệt có ý nghĩa thống kê, phương pháp Tukey được sử dụng để so sánh giá trị trung bình giữa các cặp NT. Ý nghĩa thống kê được đặt ở mức P<0,05. “Broken-line regression analysis” được sử dụng để ước tính mức Lys tối ưu trong khẩu phần bằng quy trình NLIN của phần mềm SAS.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    Không có trường hợp gà chết trong GĐ 43-63NT, gà phản ứng đáng kể (P=0,004) với KL cuối TN, tăng khối lượng (TKL) tích lũy (P=0,001) và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) (P<0,001) khi tăng hàm lượng Lys từ 0,77 lên 1,17%, trong khi lượng TA ăn vào (LTAAV) không khác biệt đáng kể (P=0,631) giữa các NT.

     

    Tất cả các KP cho gà Korat trong giai đoạn này đều có nồng độ ME tương tự (từ 3.200 đến 3.204 kcal/kg). Do đó, lượng LTAAV của gà TN không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng Lys trong KP. Tăng khối lượng cơ thể của gà TN khác biệt đáng kể khi được cho ăn KP có chứa Lys từ 0,97 đến 1,17% so với 0,77%, nhưng mức TKL cơ thể vẫn tương đối ổn định giữa các nghiệm thức 0,97, 1,07 và 1,17% Lys. Tương tự, FCR được cải thiện đáng kể khi gà TN được cho ăn KP có Lys ở mức 0,97% so với 0,77%, nhưng không có sự cải thiện hơn về FCR khi hàm lượng Lys trong khẩu phần tăng lên 1,17%. Số liệu này cho thấy KP có 0,77% Lys là không đủ cho tốc độ sinh trưởng của gà TN. Do sự giảm về TKL trong khi LTAAV không đổi, dẫn đến tăng FCR khi gà TN ăn KP không đủ Lys. Kết quả nghiên cứu trong GĐ này hoàn toàn phù hợp với các báo cáo trước đây (Labadan và ctv, 2001; Corzo và ctv, 2006; Samadi và Frank Liebert, 2007; Bernal và ctv, 2014; Cemin và ctv, 2017): tác động tiêu cực của sự thiếu Lys trong KP đối với TKL và FCR của gà.

     

    Sử dụng “Broken-line regression analysis”, nhu cầu Lys được ước tính là 1,01% cho cả TKL và FCR (Bảng 5) cao hơn so với nhu cầu Lys của gà Cobb 500 GĐ 50-65NT được ước tính là 0,95% (Samadi và Frank Liebert, 2007). Nhìn chung, nhu cầu Lys của gà Korat trong GĐ này khá cao khi được biểu thị dưới dạng lượng Lys hấp thụ/TKL. Giá trị này cao hơn 9-43,9% so với các nghiên cứu trước đây (NRC, 1994; Labadan và ctv, 2001; Corzo và ctv, 2006). Nhu cầu Lys của gà Korat cao hơn so với gà thịt thương phẩm tăng trưởng nhanh, điều này có thể là do điều kiện môi trường. Cụ thể, gà thịt tăng trưởng chậm trong nghiên cứu hiện tại được nuôi trong chuồng hở và thông gió tự nhiên ở vùng khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ môi trường cao gây ra sự giảm LTAAV (Han và Baker, 1993) và do đó cần hàm lượng Lys cao hơn trong KP.

     

    Bảng 3. Sinh trưởng của gà TN 43-63NT được cho ăn các mức Lys khác nhau

     

    Chỉ tiêu

    0,77

    0,87

    0,97

    1,07

    1,17

    SEM

    P

    KL43, g/con

    677,4

    678,9

    680,3

    681,7

    675,3

    2,718

    0,963

    KL63, g/con

    1152,1ᶜ

    1173,0ᵇᶜ

    1194,6ᵃᵇ

    1195,1ᵃᵇ

    1204,3ᵃ

    5,277

    0,004

    TKL tích lũy, g/con

    474,7ᶜ

    494,2ᵇᶜ

    514,3ᵃᵇ

    513,5ᵃᵇ

    528,9ᵃ

    4,795

    0,001

    LTAAV, g/con

    1.460

    1.486

    1.436

    1.436

    1.444

    11,40

    0,631

    FCR, g/g

    3,08ᵃ

    3,01ᵃ

    2,79ᵇ

    2,80ᵇ

    2,73ᵇ

    0,033

    <0,001

     

    Các giá trị trung bình mang các chữ số khác nhau trên cùng hàng là khác biệt có ý nghĩa (P≤0,05).

     

    Tỷ lệ tử vong của gà TN là 0,0% trong GĐ 64-84NT. Kết quả cho thấy xu hướng tương tự như GĐ trước. Cụ thể, KL cuối TN, TKL tích lũy, FCR bị ảnh hưởng bởi các mức độ Lys KP (P<0,05), trong khi LTAAV không có sự khác biệt đáng kể giữa các NT (P>0,05) (Bảng 4). Khi hàm lượng Lys trong KP tăng từ 0,77% lên 1,17%, TKL cơ thể của gà TN tăng lên đáng kể nhưng không có sự khác biệt đáng kể về TKL cơ thể của gà giữa NT được cho ăn các KP có hàm lượng Lys là 0,97; 1,07 và 1,17%. Ngược lại, các giá trị về FCR cải thiện đáng kể khi hàm lượng Lys trong KP tăng lên. Đặc biệt, FCR giảm đáng kể khi gà được cho ăn KP có hàm lượng 1,07% Lys so với KP có hàm lượng 0,77% Lys. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về FCR giữa gà được cho ăn KP có hàm lượng Lys cao hơn 1,07%. Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu của Labadan và ctv (2001); Corzo và ctv (2006); Samadi và Frank Liebert (2007); Bernal và ctv (2014) và Cemin và ctv (2017), phát hiện ra rằng hàm lượng Lys không đủ trong KP gây ra những tác động tiêu cực đến TKL và FCR do tốc độ tổng hợp protein thấp hơn hoặc tốc độ phân hủy cao hơn, hoặc sự thay đổi đồng thời ở cả hai thành phần của quá trình chuyển hóa protein trong toàn bộ cơ thể (Tesseraud và ctv, 1996; Urdaneta-Rincon và Leeson, 2004).

     

    Bảng 4. Sinh trưởng của gà GĐ 64-84NT được cho ăn các mức Lysine khác nhau

     

    Chỉ tiêu

    0,77

    0,87

    0,97

    1,07

    1,17

    SEM

    P

    KL64, g/con

    1.259

    1.259

    1.259

    1.264

    1.262

    2,614

    0,939

    KL84, g/con

    1.753ᵇ

    1.789ᵃᵇ

    1.801ᵃ

    1.807ᵃ

    1.802ᵃ

    5,817

    0,011

    TKL tích lũy, g/con

    494,5ᵇ

    529,8ᵃᵇ

    542,6ᵃ

    542,4ᵃ

    540,2ᵃ

    5,077

    0,004

    LTAAV, g/con

    1.712

    1.750

    1.745

    1.713

    1.699

    16,23

    0,840

    FCR, g/g

    3,46ᵃ

    3,31ᵃᵇ

    3,22ᵃᵇ

    3,16ᵇ

    3,15ᵇ

    0,033

    0,006

     

    Nhu cầu Lys ước tính của gà thịt tăng trưởng chậm trong GĐ 64-84NT lần lượt là 0,90 và 0,95%, tương ứng với mức TKL cơ thể tối ưu và FCR dựa trên “Broken-line regression analysis” (Bảng 5). Khác với GĐ 43-63NT, nhu cầu Lys đối với FCR của gà thịt tăng trưởng chậm trong giai đoạn này cao hơn so với TKL. Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Fatufe và ctv (2004). Tương tự như kết quả của giai đoạn trước, nhu cầu Lys của gà thịt tăng trưởng chậm trong GĐ này cũng khá cao.

     

    Nhìn chung, nhu cầu Lys của gà thịt tăng trưởng chậm giảm theo tuổi. Quan sát này tỷ lệ thuận với sự giảm nhu cầu protein của gà Korat, được thực hiện bởi Maliwan và ctv (2019, 2022). Phát hiện này cũng phù hợp với các báo cáo trước đó, chỉ ra rằng nhu cầu đối với hầu hết các axit amin thiết yếu giảm khi động vật đang phát triển già đi (Labadan và ctv, 2001; Bernal và ctv, 2014; Cemin và ctv, 2017). Sự khác biệt về nhu cầu axit amin trong các GĐ phát triển khác nhau còn được giải thích do sự khác biệt về tỷ lệ tăng trưởng và nhu cầu duy trì mô (Mitchell, 1959).

     

    Bảng 5. Mức lysine khẩu phần tối ưu

     

    GĐ

    Chỉ tiêu

    Công thức

    Ước tính

    R²

    43-63

    TKL

    Y=521,2-198,0×(1,01-x)

    1,01

    0,490

     

    FCR

    Y=2,765+1,425×(1,01-x)

    1,01

    0,508

    64-84

    TKL

    Y=541,7-353,2×(0,90-x)

    0,90

    0,290

     

    FCR

    Y=3,174+1,550×(0,95-x)

    0,95

    0,378

     

     

    Sử dụng mô hình Y=L+U×(R-x), trong đó, Y: biến phụ thuộc; x: mức lysine khẩu phần như là biến độc lập; R: phản ứng tối ưu của lysine khẩu phần; L: phản ứng khi x=r; U=độ dốc của đường cong. Trong mô hình này, Y=L khi x>R.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Để gà thịt lai tăng trưởng chậm được nuôi trong điều kiện chuồng hở, thông thoáng tự nhiên đạt được TKL tối đa và FCR hiệu quả, hàm lượng Lys trong khẩu phần là 10,1g Lys/kg TA cho gà GĐ 43-63NT và 95,0g Lys/kg TA cho gà GĐ 64-84NT được khuyến nghị.

     

     TS. Trần Hồng Định

    Bộ môn Chăn nuôi – Thú y, Khoa Nông nghiệp và Thủy sản, Trường Đại học Bạc Liêu

     

    Xem thêm:

     

    Nhu cầu lysine của chim cút đã được xác định

    Nhu cầu dinh dưỡng gà lông màu theo tiêu chuẩn Trung Quốc: Nhóm gà đẻ trứng

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. AOAC (1990). Official methods of analysis. (15th ed). Association of Official Analytical Chemists. Arlington, Virginia, USA.

     

    2. AOAC (2000). Official Methods of Analysis. 17th ed. Association of Official Analytical Chemists. Gaithersburg, Maryland, USA.

     

    3. AOAC (2006). Official method of analysis (18th ed). Association of Official Analytical Chemists. Gaithersburg, Maryland, USA.

     

    4. Baker D.H. and Han Y. (1994). Ideal amino acid profile for chicks during the first three weeks posthatching. Poul. Sci., 73(9): 1441-47.

     

    5. Baker D.H., Batal A.B., Parr T.M., Augspurger N.R. and Parsons C.M. (2002). Ideal ratio (relative to lysine) of tryptophan, threonine, isoleucine, and valine for chicks during the second and third weeks posthatch. Poul. Sci., 81(4): 485-94.

     

    6. Bernal L.E.P., Tavernari E.C., Rostagno H.S. and Albino L.E.T. (2014). Digestible lysine requirements of broilers. Bra. J. Poul. Sci., 16(1): 49-55.

     

    7. Cemin H.S., Vieira, S.L., Stefanello C., Kipper M., Kindlein L. and Helmbrecht A. (2017). Digestible lysine requirements of male broilers from 1 to 42 days of age reassessed. PLOS ONE. 12(6): e0179665.

     

    8. Chen J.L., Zhao G.P., Zheng M.Q., Wen J. and Yang N. (2008). Estimation of genetic parameters for contents of intramuscular fat and inosine-5′-monophosphate and carcass traits in Chinese Beijing-You chickens. Poul. Sci., 87(6): 1098-04.

     

    9. Corzo A., Dozier III W.A. and Kidd M.T. (2006). Dietary lysine needs of late developing heavy broilers. Poult. Sci., 85(3): 457-461.

     

    10. Trần Hồng Định và Hồ Thúy Hằng (2022). Nhu cầu lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 278: 51-57.

     

    11. Trần Hồng Định (2025). Nhu cầu Lysine của gà thịt sinh trưởng chậm giai đoạn từ 22 đến 42 ngày tuổi. Tạp chí KHKT Chăn nuôi, 309: 25-29.

     

    12. Fatufe A.A., Timmler R. and Rodehutscord M. (2004). Response to lysine intake in composition of body weight gain and efficiency of lysine utilization of growing male chickens from two genotypes. Poul. Sci., 83(8): 1314-24.

     

    13. Han Y. and Baker D.H. (1993). Effects of sex, heat stress, body weight, and genetic strain on the dietary lysine requirement of broiler chicks. Poul. Sci., 72(4): 701-08.

     

    14. Jaturasitha S., Srikanchai T., Kreuzer M. and Wicke M. (2008). Differences in carcass and meat characteristics between chicken indigenous to Northern Thailand (Black-Boned and Thai native) and imported extensive breeds (Bresse and Rhode Island Red). Poul. Sci., 87(1): 160-69.

     

    15. Kgwatalala P.M., Bolowe A.M., Thutwa K. and Nsoso S.J. (2013). Carcass traits of the naked-neck, dwarf and normal strains of indigenous Tswana chickens under an intensive management system. Agric. Biol. J. Nor. Ame., 4(4): 413-18.

     

    16. Labadan M.C., Hsu K.N. and Austic R.E. (2001). Lysine and arginine requirements of broiler chickens at two to three-week intervals to eight weeks of age. Poul. Sci., 80(5): 599-06.

     

    17. Lan Phuong T.N., Dong Xuan K.D.T. and Szalay I. (2015). Traditions and local use of native Vietnamese chicken breeds in sustainable rural farming. Worl. Poul. Sci. J., 71(2): 385-96.

     

    18. Mitchell H.H. (1959). Some species and age differences in amino acid requirements. In Protein and Amino Acid Nutrition, ed. by A.A. Albanese. Chap 2, Academic Press, New York.

     

    19. Maliwan P., Khempaka S., Molee W. and Schonewille J.Th. (2018). Effect of energy density of diet on growth performance of Thai indigenous (50% crossbred) Korat chickens from hatch to 42 days of age. Tro. Ani. Heal. Pro., 50(8): 1835-41.

     

    20. Maliwan P., Molee W. and Khempaka S. (2019). Response of Thai indigenous crossbred chickens to various dietary protein levels at different ages. Tro. Ani. Heal. Pro., 51(6): 1427-39.

     

    21. Maliwan P., Okrathok S., Pukkung C., Pasri P. and Khempaka S. (2022). Effect of dietary energy concentration on the growth of slow-growing Korat chickens from 43 to 84 days old. Sou. Afr. J. Ani. Sci., 52(1): 17-22.

     

    22. NRC (1994). Nutrient requirements of poultry 9th ed. Washington, DC., USA: National Academy Press.

     

    23. Rikimaru K. and Takahashi H. (2010). Evaluation of the meat from Hinai-jidori chickens and broilers: analysis of general biochemical components, free amino acids, inosine 5′-monophosphate, and fatty acids. J. App. Poul. Res., 19(4): 327-33.

     

    24. Samadi and Liebert F. (2007). Lysine requirement of fast growing chickens – effects of age, sex, level of protein deposition and dietary lysine efficiency. J. Poul. Sci., 44(1): 63-72.

     

    25. Sangsawad P., Kiatsongchai R., Chitsomboon B. and Yongsawatdigul J. (2016). Chemical and cellular antioxidant activities of chicken breast muscle subjected to various thermal treatments followed by simulated gastrointestinal digestion. J. Food. Sci. 81(10): 2431-38.

     

    26. Tesseraud S., Peresson R. and Chagneau A.M. (1996). Dietary lysine deficiency greatly affects muscle and liver protein turnover in growing chickens. Br. J. Nutr. 75(6): 853-65.

     

    27. Thiex N., Novotny L. and Crawford A. (2012). Determination of ash in animal feed: AOAC Official Method 942.05 Revisited. J. AOAC Int, 95(5): 1392-97.

     

    28. Urdaneta-Rincon M. and Leeson S. (2004). Muscle (pectoralis major) protein turnover in young broiler chickens fed graded levels of lysine and crude protein. Poul. Sci. 83(11): 1897-03.

     

    29. Yongsawatdigul J., Molee A. and Khongla C. (2016). Comparative study of meat qualities between Korat crossbred chicken and broiler during frozen storage. 62nd International Congress of Meat Sci. and Technol., 14-19th August, Bangkok, Thailand.

     

    30. Zotte A.D., Tasoniero G., Baldan G. and Cullere M. (2019a). Meat quality of male and female Italian Padovana and Polverara slow-growing chicken breeds. Ita. J. Ani. Sci., 18(1): 1-7.

     

    31. Zotte A.D., Ricci R., Cullere M., Serva L., Tenti S. and Marchesini G. (2019b). Effect of chicken genotype and white striping-wooden breast condition on breast meat proximate composition and amino acid profile. Poul. Sci., 99(3): 1797-03.

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Traphonh
  • Gia heo con

  • Huy Trần
  • ĐANG CẦN NGUỒN MUỐI GIÁ TỐT CHO NHÀ MÁY, XƯỞNG SẢN XUẤT HOẶC ĐẠI LÝ? Nếu anh/chị đang mua muối từ vài tấn đến hàng chục, hàng trăm tấn mỗi tháng, điều quan trọng không chỉ là giá. Quan trọng hơn là: ✅ Hàng phải ổn định ✅ Chất lượng đồng đều giữa các lô ✅ Có hồ sơ chất lượng rõ ràng ✅ Giao hàng đúng tiến độ ✅ Giá phù hợp để sản xuất lâu dài MUỐI MIỀN NAM chuyên cung cấp muối số lượng lớn cho khách hàng doanh nghiệp và đại lý trên toàn quốc. Các dòng muối cung cấp: Muối hạt thô – muối hột biển Muối sấy Muối tinh Muối sấy i-ốt Muối hạt thiên nhiên Phù hợp sử dụng cho: Nhà máy chế biến thực phẩm Sản xuất nước mắm – thủy hải sản Nhà máy gia vị Sản xuất bánh kẹo Thức ăn chăn nuôi ️ Bếp ăn công nghiệp Đại lý – nhà phân phối SỐ LƯỢNG CÀNG LỚN – GIÁ CÀNG TỐT ✔ Đơn hàng từ vài tấn đến hàng trăm tấn ✔ Bao 25kg – 50kg – Jumbo 1 tấn ✔ Hỗ trợ đóng gói theo yêu cầu ✔ Có thể hỗ trợ COA và hồ sơ sản phẩm ✔ Hỗ trợ mẫu test trước khi đặt số lượng lớn ✔ Giao hàng bằng xe tải hoặc container toàn quốc ✔ Hỗ trợ khách hàng lấy hàng định kỳ và hợp đồng dài hạn Anh/chị đang sử dụng muối mỗi tháng bao nhiêu tấn? Chỉ cần gửi: Loại muối cần mua Sản lượng dự kiến/tháng Địa điểm giao hàng Bên em sẽ gửi quy cách phù hợp + báo giá theo sản lượng thực tế. CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MUỐI MIỀN NAM Hotline/Zalo: 0947 491 629 NHẮN TIN NGAY ĐỂ NHẬN BẢNG GIÁ SỈ VÀ MẪU TEST Cần muối số lượng lớn – hãy để Muối Miền Nam báo giá cho anh/chị trước khi quyết định.

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.