[Chăn nuôi Việt Nam] – Giữa núi rừng Bản Bướt, đàn lợn tự tìm thức ăn, tự sinh sản, chiều tối lại trở về chuồng. Một cách chăn nuôi gần như không cần người chăn giữ đang trở thành nét đặc biệt trong hành trình phục hồi hệ sinh thái và phát triển sinh kế của người dân nơi đây.
Từ sản xuất hữu cơ đến phục hồi hệ sinh thái
Trong khuôn khổ chương trình “Khám phá nông nghiệp sinh thái – Hành trình học hỏi dành cho nhà báo, phóng viên” diễn ra từ ngày 16-18/9/2026 tại Sơn La, Liên minh học hỏi Nông nghiệp sinh thái Đông Nam Á (ALiSEA) đã kết nối các nhà báo với nông dân, hợp tác xã, cộng đồng và chính quyền địa phương thông qua những hoạt động trải nghiệm tại trang trại, vườn rừng và cộng đồng.
ALiSEA hiện có mạng lưới hơn 200 tổ chức tại tiểu vùng sông Mekong và hơn 70 thành viên tại Việt Nam, thúc đẩy chia sẻ tri thức, học hỏi và thực hành nông nghiệp sinh thái. Mạng lưới được điều phối bởi Tổ chức phát triển GRET (Pháp), cùng Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO) và các thành viên phối hợp triển khai.
Chương trình có sự đồng hành của các đối tác phát triển quốc tế gồm Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ (SDC), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Liên minh châu Âu (EU), hướng tới hỗ trợ chuyển đổi sang các hệ thống nông nghiệp và lương thực thực phẩm bền vững, nâng cao khả năng chống chịu và sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Một trong những điểm đến của hành trình là Bản Bướt, nay thuộc bản Hợp Thành, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Từ quốc lộ 6, đoàn phải đổi từ xe 29 chỗ sang xe con để vào bản bởi đường khá nhỏ. Nhưng đến đầu bản, xe lại phải dừng vì cây cầu nhỏ bắc qua suối không thể cho ô tô đi qua. Hành lý được chuyển xuống, cả đoàn đi bộ qua cầu rồi tiếp tục lên xe công nông đầu dọc để vào giữa bản.
Trước mắt chúng tôi là một cánh đồng lúa nước trải rộng như một thung lũng phẳng, bốn phía được núi rừng bao bọc. Chỉ có một lối ra vào khiến Bản Bướt gần như biệt lập với bên ngoài. Nhưng chính vị trí đặc biệt này cũng góp phần giúp nơi đây lưu giữ hệ sinh thái đa dạng, với suối cá, nhiều loài cây và chim thú.
Từ năm 2021, người dân Bản Bướt bắt đầu chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang nông nghiệp hữu cơ. Ông Hà Văn Nguy, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Rừng, cho biết quá trình chuyển đổi được triển khai thông qua dự án GREAT do Australia tài trợ. Hợp tác xã Đồng Rừng được thành lập đầu năm 2021, cùng thời điểm người dân bắt đầu sản xuất hữu cơ.

Vợ chồng anh Hà Văn Nguy, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Rừng
Theo anh Nguy, hai năm đầu là giai đoạn khó khăn nhất. Người dân phải mua phân hữu cơ từ bên ngoài do chưa chủ động được nguồn vật tư. Sau nhiều lớp tập huấn, bà con bắt đầu biết chăn nuôi lợn bản địa để lấy phân bón cho cây trồng, đồng thời tận dụng rơm rạ và phân chuồng để tự ủ phân. Khi hóa chất bảo vệ thực vật dần được thay thế bằng các chế phẩm từ thảo mộc, hệ sinh thái đồng ruộng cũng bắt đầu thay đổi.
Ông Vì Văn Phúc, Trưởng bản Hợp Thành, xã Vân Hồ, cho biết trước tháng 7/2025, Bản Bướt là một bản của xã Chiềng Yên, có 58 hộ với 253 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. Trước đây, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Năm 2019, bản được đầu tư xây dựng tuyến đường bê tông từ quốc lộ 6 qua bản đến trung tâm xã dài hơn 12 km; điện lưới quốc gia cũng được đưa về các hộ dân. Cùng với đó là các chương trình hỗ trợ vốn, giống và hướng dẫn xây dựng mô hình kinh tế nhằm nâng cao thu nhập.
Từ tháng 7/2025, Bản Bướt sáp nhập với Bản Cò Bá, cùng thuộc xã Chiềng Yên cũ, thành bản Hợp Thành thuộc xã Vân Hồ. Sau sáp nhập, bản có 163 hộ với 618 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái.
Đàn lợn tự tìm đường về
Đoàn nhà báo chúng tôi có một đêm nghỉ tại Homestay Vân Hồ Agritage, cũng là một cơ ngơi của của Hợp tác xã Đồng Rừng. Không wifi, không sóng điện thoại, 3G cũng “câm bặt”. Trong một đêm, cảm giác như chúng tôi hoàn toàn tách khỏi thế giới bên ngoài. Nhưng đổi lại là một không gian xanh mướt trên quả đồi với cây cối dày đặc.
Sáng hôm sau, anh Hà Văn Nguy bảo chúng tôi cứ đi theo con chó của gia đình. Nó sẽ dẫn đường tới khu chuồng nuôi lợn. Con chó chạy trước, men theo con suối vào rừng. Đoạn đường chưa đầy 2 km nhưng chẳng khác gì một cuộc thử sức. Một bên là vách đá trơn trượt, bên kia là khe suối sâu. Trời mưa khiến những phiến đá càng trơn, chỉ cần sơ sẩy là có thể ngã xuống.
Sau gần 2 km trèo đèo, lội suối, chúng tôi mới tới khu chuồng nuôi lợn. Trước mắt là một ngôi nhà gỗ xiêu vẹo, hai mặt không có vách ngăn, cũng chẳng có cánh cửa. Điều bất ngờ hơn cả là bên trong không có lấy một con lợn.
Sau quãng đường nhọc nhằn, tôi thoáng thất vọng, tự hỏi chẳng lẽ chuyến đi này chỉ để ngắm một chiếc chuồng lợn trống không?
Anh Nguy đi sau đoàn một khoảng nên một lúc sau mới tới nơi. Tôi nói muốn chụp ảnh đàn lợn. Anh chỉ cười và bảo cứ chờ một lát. Khoảng năm phút sau, từ sườn núi rậm rạp cây cỏ, con chó nhà anh Nguy lững thững đi xuống.
Phía sau nó, một đàn lợn rừng cũng lần lượt xuất hiện. Con lông đen, con màu nâu; con lớn, con nhỏ nối đuôi nhau từ trên núi trở về, tự nhiên như thể nơi này vốn là nhà của chúng. Anh Nguy cho biết ban ngày đàn lợn tự đi vào rừng, leo lên núi kiếm ăn. Đến chiều tối, chúng lại tự xuống núi, tìm về chuồng ngủ qua đêm.

Đàn lợn nhà anh Hà Văn Nguy giữa rừng Bản Bướt
Không cần người chăn dắt. Cũng chẳng cần ai mở cửa đón về, bởi chiếc chuồng giữa rừng vốn không có cửa. Lợn thích đi đâu thì đi, đến giờ lại tự tìm đường về.
Cách nuôi lợn của gia đình anh Nguy vì thế cũng đặc biệt. Những hôm cần bắt lợn bán, anh chỉ đứng dưới chân núi gọi vài tiếng “hít, hít”. Đàn lợn nghe tiếng quen liền chạy xuống. Lợn nái có chửa cũng tự lên rừng đẻ. Khi lợn con cứng cáp, lợn mẹ lại dẫn đàn con trở về chuồng. Nhờ vậy, gia đình anh gần như không phải bỏ tiền mua lợn giống, chỉ trừ lứa đầu.
Chỉ những ngày mưa gió, đàn lợn không thể lên rừng kiếm ăn, anh mới nấu cám gạo cho chúng. Còn bình thường, mỗi tuần anh chỉ vào thăm đàn lợn một lần. Không phải đàn lợn không cần chăm sóc, mà bởi đường vào khu chuồng quá hiểm trở. Chính sự hiểm trở ấy lại trở thành một “hàng rào” bảo vệ đàn lợn. Chuồng nằm giữa bốn bề núi đá, chỉ có duy nhất một lối vào. Người lạ muốn tìm đến đã khó, chuyện trộm lợn lại càng khó hơn.
Đặc biệt, đàn lợn còn có một “người gác rừng” rất đặc biệt: con chó nhà anh Nguy. Nó thường xuyên theo đàn lợn vào rừng rồi trở về chuồng cùng chúng. Theo anh Nguy, con chó hiểu tiếng người và dường như cũng hiểu công việc của mình. Nếu buổi tối phát hiện đàn lợn thiếu một con, nó sẽ trở về tìm anh, làm những động tác như muốn báo hiệu cho chủ biết có chuyện bất thường.
Giữa núi rừng Bản Bướt, đàn lợn cứ thế sống theo cách của riêng chúng: ban ngày tự tìm thức ăn giữa rừng, chiều tối tự trở về, lợn mẹ tự sinh con, còn một chú chó trở thành người trông đàn bất đắc dĩ. Một mô hình chăn nuôi gần như không cần người chăn giữ, được hình thành từ chính địa hình hiểm trở và nhịp sống tự nhiên của núi rừng.
Theo anh Nguy, đàn lợn ban đầu chỉ được mua giống, sau đó tự sinh sản và phát triển đàn. Đến nay, số lượng đã lên hơn 30 con. Mỗi khi có khách đặt mua, việc đưa lợn ra khỏi rừng lại trở thành một công việc không dễ dàng. Đường vào không thể sử dụng ô tô, xe máy hay thậm chí xe đạp để vận chuyển lợn. Vợ chồng anh phải vác từng con lợn trên vai đưa ra bản.
Lợn rừng được khách mua với giá khoảng 200.000-220.000 đồng/kg. Mỗi con nặng khoảng 6-15 kg, có thể bán được 1,5-3 triệu đồng.
Giá trị của đàn lợn vì thế không chỉ nằm ở số tiền thu được từ mỗi con vật. Mô hình này còn cho thấy cách người dân tận dụng điều kiện tự nhiên để giảm chi phí chăn nuôi, bảo tồn giống vật nuôi bản địa và tạo sinh kế từ chính hệ sinh thái mà họ đang gìn giữ.
Ở Bản Bướt, chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái không diễn ra bằng những thay đổi quá lớn hay những công nghệ phức tạp. Đó có thể bắt đầu từ việc người dân tự ủ phân, hạn chế hóa chất, khôi phục sinh vật có ích trên đồng ruộng, giữ lại giống cây trồng, vật nuôi bản địa và khai thác hợp lý những lợi thế của núi rừng. Đàn lợn tự do giữa rừng có lẽ là hình ảnh sinh động nhất cho sự thay đổi ấy. Khi con người giảm bớt sự can thiệp, thiên nhiên có thêm không gian để phục hồi. Và khi biết dựa vào thiên nhiên thay vì khai thác quá mức, người dân cũng có thêm một cách để tạo sinh kế.
Giữa thung lũng được núi rừng bao bọc, đàn lợn vẫn ngày ngày lên núi kiếm ăn, chiều tối trở về chiếc chuồng không cửa. Một nhịp sống tưởng như giản đơn, nhưng phía sau đó là câu chuyện về cách một cộng đồng đang từng bước tìm lại sự cân bằng giữa sản xuất nông nghiệp, sinh kế và hệ sinh thái.
Vân Hồ phát triển mô hình chăn nuôi lợn bản địa
Mới đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La ra mắt mô hình chăn nuôi lợn bản địa năm 2026, với sự tham gia của hàng chục hộ dân tại bản Hợp Thành và bản Phụ Mẫu. Mô hình được kỳ vọng tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập và từng bước xây dựng thương hiệu lợn bản địa trên địa bàn.
Mô hình được triển khai với sự hỗ trợ con giống của Công ty Cổ phần Tây Thái Dương. Qua tuyên truyền, vận động, có 41 hộ dân đăng ký tham gia, trong đó bản Hợp Thành có 29 hộ và bản Phụ Mẫu 12 hộ.
Tổng cộng 74 con lợn giống đã được hỗ trợ cho 37 hộ dân, với tổng kinh phí hơn 123 triệu đồng. Các hộ tham gia được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, hướng dẫn quy trình chăm sóc, vệ sinh chuồng trại và phòng, chống dịch bệnh theo hướng an toàn sinh học.
Đến nay, 100% hộ tham gia đã hoàn thành xây dựng hoặc cải tạo chuồng trại theo yêu cầu. Đàn lợn sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ đạt trên 90%.
Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Vân Hồ, bước đầu mô hình cho thấy hiệu quả tích cực, góp phần tạo việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời phát huy vai trò của hội viên phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Theo bà Nguyễn Thị Ngọc, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Vân Hồ, việc phát triển mô hình chăn nuôi lợn bản địa cũng mở ra hướng khai thác lợi thế giống vật nuôi đặc trưng của địa phương, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường và sinh kế của người dân. Nếu được tổ chức tốt từ khâu con giống, chăm sóc, phòng dịch đến tiêu thụ, mô hình có thể trở thành một trong những hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân vùng núi Vân Hồ.
Bài, ảnh: Chu Khôi
Xem thêm:
Giải pháp phát triển chăn nuôi lợn hữu cơ, an toàn sinh học
Mô hình chăn nuôi lợn hữu cơ cần được nhân rộng
- nông nghiệp hữu cơ li>
- chăn nuôi lợn hữu cơ li>
- đàn lợn li>
- rừng Bản Bướt li> ul>
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
- Giá heo hơi ngày 10/10 giảm còn 51.000 đồng/kg, áp lực thị trường gia tăng
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Khoa Chăn nuôi (VNUA) kỷ niệm 70 năm: Giữ lửa truyền thống, thắp sáng tương lai
- Sinh viên Chăn nuôi – Thú y trước yêu cầu mới của thị trường lao động
- Khoa Thú y (VNUA) 70 năm thành lập: Kết nối thế hệ – Dẫn dắt tương lai
- Đồng Nai khởi tố 2 bị can trong vụ 2.349 con heo chứa chất cấm
- Nữ sinh Việt và dự án “Giải bài toán lao động thủ công trong chăn nuôi bò”
- Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ANOVA Agri ký kết hợp tác giai đoạn 2026–2030
- Giá heo hơi ngày 9/10: Thị trường chạm đáy mới, người nuôi thêm áp lực
Tin mới nhất
T7,10/10/2026
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
- Giá heo hơi ngày 10/10 giảm còn 51.000 đồng/kg, áp lực thị trường gia tăng
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Khoa Chăn nuôi (VNUA) kỷ niệm 70 năm: Giữ lửa truyền thống, thắp sáng tương lai
- Sinh viên Chăn nuôi – Thú y trước yêu cầu mới của thị trường lao động
- Khoa Thú y (VNUA) 70 năm thành lập: Kết nối thế hệ – Dẫn dắt tương lai
- Đồng Nai khởi tố 2 bị can trong vụ 2.349 con heo chứa chất cấm
- Nữ sinh Việt và dự án “Giải bài toán lao động thủ công trong chăn nuôi bò”
- Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ANOVA Agri ký kết hợp tác giai đoạn 2026–2030
- Giá heo hơi ngày 9/10: Thị trường chạm đáy mới, người nuôi thêm áp lực
- Ngành gia cầm Malaysia: Hướng tới tăng năng lực sản xuất và ứng dụng công nghệ
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng






















Bình luận mới nhất