Đồng nhiễm H9N2 và IBV trên gia cầm: Thách thức và giải pháp phòng ngừa toàn diện - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 59.300 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 57.600 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 58.000 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 74.800 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 42.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 43.700 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 32.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 29.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 29.000 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 45.300 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 39.100 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 37.600 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.100 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.880 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.730 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.050 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.080 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 2.090 đ/quả
    •  
  • Đồng nhiễm H9N2 và IBV trên gia cầm: Thách thức và giải pháp phòng ngừa toàn diện

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Ngày 21/8/2026, tại Hà Nội, Khoa Thú y (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) phối hợp cùng Kemin Biologics và VINODA đã tổ chức hội thảo chuyên đề mang chủ đề: “Thách thức đồng nhiễm H9N2 và IBV trên gia cầm: Thách thức và giải pháp phòng ngừa toàn diện” nhằm đưa ra những góc nhìn khoa học và giải pháp thực tiễn cho ngành chăn nuôi gia cầm.

     

    Tham dự hội thảo, về phía Khoa Thú y có PGS.TS. Bùi Trần Anh Đào – Trưởng Khoa và PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam – Phó Trưởng Khoa. Về phía doanh nghiệp có ông Phạm Văn Hiến – đại diện Kemin khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam, ông Wei Shen, chuyên gia về vắc xin và sức khỏe gia cầm của Kemin Biologics, bà Lê Mỹ Khánh Huyền – Giám đốc VINODA, cùng đông đảo các chuyên gia, diễn giả và sinh viên Khoa Thú y.

    Các đại biểu tham dự hội thảo

     

    Góc nhìn từ cơ sở đào tạo và nghiên cứu

     

    Phát biểu khai mạc, PGS.TS. Bùi Trần Anh Đào nhấn mạnh, hội thảo là một trong những hoạt động thiết thực nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Khoa Thú y, khẳng định tầm quan trọng của việc đưa các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vào các trại chăn nuôi.

    PGS.TS Bùi Trần Anh Đào phát biểu tại hội thảo

     

    Theo PGS.TS Bùi Trần Anh Đào, chăn nuôi gia cầm hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp. Trong đó, H9N2 là một chủng virus cúm gây bệnh nhẹ nhưng khi kết hợp với virus viêm phế quản truyền nhiễm (IBV) sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng. Về mặt cơ chế sinh bệnh, sự kết hợp này làm suy giảm miễn dịch, ảnh hưởng trực tiếp đến đáp ứng miễn dịch vắc-xin, đường hô hấp và năng suất chăn nuôi.

     

    Khoa Thú y luôn mong muốn đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp như Kemin và VINODA trong công tác nghiên cứu khoa học và tổ chức các hội thảo chuyên sâu dành cho sinh viên trong thời gian tới.

     

    Cúm cúm gia cầm H9N2: Sự khác biệt giữa độc lực thấp và độc lực cao

     

    Chia sẻ tại hội thảo, TS. Đặng Hữu Anh, Giảng viên Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhấn mạnh, trong công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia cầm, việc hiểu rõ bản chất di truyền, cơ chế biến chủng của mầm bệnh cũng như các tương tác dịch tễ là yếu tố then chốt để xây dựng quy trình kiểm soát hiệu quả.

     

    Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra, được phân loại thành cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) và cúm gia cầm độc lực thấp (LPAI). Các chủng virus này thuộc týp A và được phân chia dựa trên hai glycoprotein bề mặt là hemagglutinin (HA với 18 týp) và neuraminidase (NA với 11 týp), trong đó ở gia cầm đã xác định được 16 týp HA và 9 týp NA.

    TS. Đặng Hữu Anh, Giảng viên Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chia sẻ tại hội thảo

     

    Về mặt độc lực và cơ chế gây bệnh, sự khác biệt căn bản giữa virus cúm gia cầm độc lực thấp (LPAI) và độc lực cao (HPAI) nằm ở khả năng phân cắt protein Hemagglutinin (HA_0 thành HA_1 và HA_2). Trong khi protease phân cắt LPAI chỉ khu trú ở đường hô hấp và tiêu hóa, thì protease phân cắt HPAI lại xuất hiện phổ biến toàn thân, khiến bệnh bùng phát dữ dội.

     

    Còn theo ông Wei Shen, chuyên gia về vắc xin và sức khỏe gia cầm của Kemin Biologics, về mặt triệu chứng lâm sàng, mức độ nghiêm trọng của bệnh phụ thuộc vào chủng virus, thể bệnh, loài gia cầm (gà tây mẫn cảm hơn gà và vịt) cũng như độ tuổi, với thời gian ủ bệnh kéo dài từ 1 đến 3 ngày.

     

    Trong khi chim hoang dã thường không biểu hiện triệu chứng rõ rệt, gia cầm nhiễm LPAI thường xuất hiện các triệu chứng hô hấp và tiêu hóa nhẹ như viêm tiết dịch, có mủ nhầy đường hô hấp, dịch xuất ở khí quản và viêm túi khí.

     

    Bệnh cũng gây ra các tổn thương đường tiêu hóa và sinh sản như viêm ruột, viêm ống dẫn trứng, buồng trứng xuất huyết, viêm phúc mạc do vỡ lòng đỏ trứng ở gà đẻ, đồng thời làm giảm năng suất trứng, khiến trứng bị dị dạng, vỏ mỏng hoặc mất sắc tố. Tỷ lệ chết thông thường dao động từ 0 đến 5%, nhưng có thể tăng vọt lên tới 80% khi có sự bội nhiễm với các mầm bệnh khác như Newcastle, IB, Mycoplasma synoviae, Mycoplasma gallisepticum, E. coli hoặc do điều kiện chuồng nuôi kém.

    Ông Wei Shen, chuyên gia về vắc xin và sức khỏe gia cầm của Kemin Biologics

     

    Ngược lại, cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) gây chết quá cấp tính, khiến gia cầm chết rất nhanh trước khi kịp quan sát rõ bệnh tích đại thể, kèm theo các tổn thương đặc trưng như phù nề, hoại tử và xuất huyết lan rộng ở mào, tích, chân và các cơ quan nội tạng.

     

    Xét về ý nghĩa kinh tế, dịch bệnh gây ra những gánh nặng tài chính lớn thông qua chi phí quản lý, giám sát và phòng ngừa. Đối với HPAI, do tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết rất cao, chi phí tiêu hủy đàn, xử lý xác gia cầm, vệ sinh khử trùng, cách ly, giám sát, tiêm phòng vắc-xin và bồi thường thiệt hại là vô cùng lớn.

     

    Trong khi đó, dù LPAI có tỷ lệ chết và chi phí thanh toán dịch bệnh cấp quốc gia thấp hơn, nó lại gây ra tác động kinh tế âm thầm nhưng nghiêm trọng do làm giảm sút năng suất sản xuất trứng, phát sinh chi phí vệ sinh khử trùng và buộc người chăn nuôi phải trì hoãn kế hoạch tái đàn.

     

    Riêng đối với chủng H9N2, nghiên cứu cho thấy có hơn 50% số ca nhiễm được ghi nhận vào mùa đông do môi trường lạnh và ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho virus tồn tại và phát tán trên các mô hình nông hộ, trang trại thương mại cũng như chợ gia cầm sống. Ngoài ra, virus H9N2 còn gây ức chế hệ miễn dịch kéo dài, tấn công cơ quan miễn dịch, làm giảm số lượng tế bào lympho T tại tuyến ức và ảnh hưởng xấu đến khả năng sản sinh kháng thể chống lại các bệnh khác.

     

    Trong thực tế chăn nuôi thú y, virus cúm gia cầm độc lực thấp (LPAI) chủng H9N2 đang gây ra những nguy cơ nghiêm trọng thông qua cơ chế ức chế hệ miễn dịch. Virus tấn công trực tiếp vào các cơ quan miễn dịch, cản trở sự phát triển của tế bào lympho T tại tuyến ức, làm suy giảm các chỉ số huyết học và sinh hóa máu, từ đó ảnh hưởng xấu đến khả năng sản sinh kháng thể chống lại các mầm bệnh khác như Newcastle. Đặc biệt, hiện tượng đồng nhiễm giữa H9N2 và các bệnh truyền nhiễm khác làm độc lực tăng cao rõ rệt. Khi gà đồng nhiễm LPAI H9 và Newcastle (ND), thời gian mắc bệnh trung bình kéo dài từ 14 ngày lên đến 35 ngày và tỷ lệ chết tăng vọt từ  lên . Nếu tiếp tục ghép với các tác nhân như Infectious Bronchitis (IBV), E. coli (APEC) hay Mycoplasma, các bệnh tích đại thể và triệu chứng lâm sàng sẽ trở nên vô cùng trầm trọng, tỷ lệ tử vong có thể chạm mức , gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho trang trại.

     

    IBV: Bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu trên gia cầm

     

    Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IBV) do virus thuộc chi Gammacoronavirus, họ Coronaviridae gây ra, là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu trên gia cầm với khả năng lây nhiễm rất cao và thời gian ủ bệnh ngắn (chỉ từ 24–48 giờ).

     

    Bệnh lây truyền dễ dàng qua không khí hoặc gián tiếp qua dụng cụ chăn nuôi, trong đó chim hoang dã đóng vai trò là ổ chứa mầm bệnh. Sau khi xâm nhập qua đường hô hấp, virus phá hủy các tế bào biểu mô lông rung và nhanh chóng phát tán đến nhiều cơ quan như thận, tuyến sinh dục và đường tiêu hóa.

     

    Về mặt lâm sàng, bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp như ho, hắt hơi, chảy nước mắt, cùng các bệnh tích đại thể xuất hiện dịch tiết thanh dịch hoặc bã đậu trong khí quản và túi khí. Ở thể hướng thận, thận thường bị sưng, nhợt màu và biến đổi ở ống thận. Trên gà đẻ, bệnh gây tổn thương nặng nề làm thoái triển buồng trứng, giảm chiều dài ống dẫn trứng, sụt giảm năng suất từ 20–70% và khiến trứng bị biến dạng, vỏ mỏng. Đối với gà thịt từ 4–6 tuần tuổi, IBV làm suy giảm tăng trọng nghiêm trọng và có thể gây tỷ lệ tử vong từ 10–60%.

    Theo TS. Đặng Hữu Anh, thực tế chăn nuôi ghi nhận hiện tượng gà đã tiêm vắc-xin IBV nhưng vẫn mắc bệnh. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ hai đặc điểm di truyền: đột biến điểm và tái tổ hợp gen.

     

    Theo góc nhìn của TS. Đặng Hữu Anh, thực tế chăn nuôi ghi nhận hiện tượng gà đã tiêm vắc-xin IBV nhưng vẫn mắc bệnh. Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ hai đặc điểm di truyền: đột biến điểm và tái tổ hợp gen. Do enzyme  của IBV không có chức năng sửa lỗi, các đột biến điểm trên gen S1 tích tụ liên tục, tạo ra các serotype mới làm thất bại bảo hộ chéo vắc-xin. Bên cạnh đó, khi gà đồng nhiễm hai chủng IBV, cơ chế “sao chép nhảy màng” của  trong quá trình tạo sgmRNA lai sẽ thúc đẩy tái tổ hợp gen mạnh mẽ, tạo ra các chủng lai mang đặc tính sinh học hoàn toàn mới. Khảo sát giai đoạn 2014–2023 tại Việt Nam cho thấy sự lưu hành đa dạng của IBV với 2/6 genotype (GI, GVI) và ít nhất 7/31 dòng thuộc genotype GI.

     

    Bên cạnh IBV, các hiện tượng đồng nhiễm phức tạp khác cũng gia tăng áp lực lên hô hấp gia cầm. Sự xuất hiện của vi khuẩn ORT thường tạo nên các tổn thương đặc trưng như xuất huyết sung huyết khí quản và tích tụ khuôn tơ huyết dạng bệnh lý ở hai phế quản. Đáng chú ý, các nghiên cứu độc lực cho thấy sự tương tác bất lợi giữa virus cúm H9N2 và vắc-xin Newcastle (dòng LaSota): gà nhiễm H9N2 kết hợp can thiệp LaSota (đặc biệt là tiêm vắc-xin sau khi nhiễm 3 ngày) làm tỷ lệ chết tăng vọt lên , cao hơn hẳn so với việc chỉ nhiễm H9N2 đơn độc (). Ngoài ra, IBV còn trực tiếp tấn công hệ sinh sản, làm suy giảm sản lượng đẻ, trứng biến dạng và loãng lòng trắng.

     

    Còn theo chuyên gia Wei Shen của Kemin, virus gây bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm (IBV) thuộc chi Gammacoronavirus, họ Coronaviridae, được phân loại chủ yếu dựa trên kỹ thuật giải trình tự gen S1—vùng có tính biến đổi và kháng nguyên cao nhất—bên cạnh các phương pháp đánh giá theo kiểu gây bệnh và kiểu bảo hộ in vivo. Sự đa dạng di truyền của IBV vô cùng phức tạp với rất nhiều cụm kiểu gen từ GI đến GVI lưu hành rộng rãi trên toàn cầu, trong đó dòng GI-23 (điển hình như biến chủng VAR 2) cùng chủng TC07-2 thuộc dòng GVI-1 đang lan rộng mạnh mẽ từ châu Á sang nhiều khu vực như Trung Đông, châu Phi, châu Âu và Mỹ Latinh. Tại Việt Nam, các kết quả phân lập thực địa đã ghi nhận sự hiện diện đồng thời của nhiều kiểu gen trên gà thịt và gà đẻ (như các chủng VNUA3, VNUA8, VNUA11), gây ra các tổn thương kết hợp ở khí quản và thận ngay cả trên những đàn đã được tiêm phòng vắc-xin Ma5 hoặc 4/91.

     

    Đáng chú ý, sự xuất hiện liên tục của các biến chủng mới làm gia tăng nguy cơ vắc-xin không tương đồng, trong khi các dữ liệu về bảo hộ chéo giữa chủng vắc-xin truyền thống (Mass, 793B) với các biến chủng mới (QX, VAR 2) vẫn còn rất hạn chế, đặt ra thách thức vô cùng lớn cho công tác kiểm soát dịch bệnh bằng vắc-xin hiện nay.

     

    Sự xuất hiện của các chủng virus Viêm phế quản truyền nhiễm (IBV) biến chủng có độc lực cao, điển hình như chủng HX thuộc kiểu gen GVI-1 với độ tương đồng chuỗi S1 thấp so với các chủng cổ điển (như H120 chỉ đạt 58,49%), đang đặt ra thách thức lớn cho công tác kiểm soát dịch bệnh.

    Phần trình bày của chuyên gia Wei Shen có sự đồng hành phiên dịch của ông Phạm Văn Hiến – đại diện Kemin khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam

     

    Đồng bộ để kiểm soát H9N2 và IBV

     

    Để kiểm soát triệt để, theo TS. Đặng Hữu Anh người chăn nuôi cần áp dụng toàn diện nguyên lý tam giác dịch tễ học:

     

    • Quản lý nguồn bệnh: Phát hiện sớm bằng việc giám sát và xét nghiệm, cách ly, điều trị kịp thời hoặc tiêu hủy đàn bệnh.
    • Cắt đứt nhân tố trung gian: Kiểm soát môi trường bằng tổng hợp các biện pháp cơ học, vật lý, hóa học và sinh học.
    • Bảo vệ động vật cảm thụ: Nâng cao sức đề kháng toàn đàn thông qua lịch trình vắc-xin phù hợp và bổ sung kháng thể chủ động.

     

    Còn theo đại diện Kemin, trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, chiến lược kiểm soát IBV toàn diện đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý an toàn sinh học, giảm mật độ và cải thiện môi trường chuồng nuôi (khí , chất độn chuồng), giám sát chủ động trên chim hoang dã, cùng can thiệp điều trị đúng lúc đối với các mầm bệnh thứ phát như E. coli, Mycoplasma hay ORT.

     

    Giải pháp đến từ Kemin Biologics

     

    Để chủ động kiểm soát và ứng phó với diễn biến phức tạp này, việc giám sát dịch bệnh toàn cầu đóng vai trò then chốt. Kemin có một trung tâm nghiên cứu về gia cầm đặt tại Ai Cập. Thông qua việc theo dõi các tuyến đường chim di cư qua những điểm nóng như Ai Cập (nơi giao thoa các tuyến di cư từ Trung Đông, Tây Ban Nha – Morocco, Ý – Tunisia), các nhà khoa học có thể kịp thời phân lập, dự báo và nghiên cứu giải pháp vắc-xin phù hợp.

     

    Nhằm tối ưu hóa hiệu quả phòng bệnh, công nghệ vắc-xin hiện đại đã ứng dụng các chất bổ trợ dạng dầu tiên tiến (như Montanide ISA 71 VG hay Montanide ISA 70 VG) giúp kích thích và duy trì hiệu giá kháng thể ở mức rất cao vượt trội so với các dạng chất bổ trợ truyền thống, mang lại giải pháp bảo hộ toàn diện cho đàn gia cầm.

    Đại diện Khoa Thú y, Kemin Biologics và Vinoda trao đổi, giải đáp những thắc mắc đối với các bạn sinh viên và các bác sĩ thú y

     

    Việc sử dụng vắc-xin chất lượng cao như MEFLUVAC-H9ND-16 giúp cải thiện đáng kể khả năng bảo hộ so với các sản phẩm đối chứng. Đặc biệt, phác đồ tiêm vắc-xin lúc 7 ngày tuổi mang lại hiệu quả vượt trội trong việc kiểm soát sự bài thải virus, giảm tỷ lệ bài thải qua đường hô hấp xuống chỉ còn 10% và qua đường tiêu hóa (ổ nhớp) xuống 20% ở thời điểm 7 ngày sau công cường độc, giúp bảo vệ đàn gia cầm tối ưu và hạn chế sự lây lan mầm bệnh ra môi trường.

     

    Trước thực tế không thể liên tục phát triển vắc-xin mới cho từng biến chủng, giải pháp tối ưu hiện nay là áp dụng mô hình ô bảo hộ (Protectotype) bằng cách phối hợp vắc-xin chủng cổ điển (như Mass, H120) và chủng biến thể (như VAR 2). Cụ thể, khi áp lực thực địa do chủng biến thể chi phối, việc sử dụng vắc-xin biến thể (như MEVAC™ IB VAR 2) ở mũi đầu tiên kết hợp tiêm nhắc chủng cổ điển sau 2 tuần giúp kích hoạt miễn dịch hiệu quả; ngược lại, nếu áp lực đến từ chủng cổ điển, vắc-xin cổ điển sẽ được ưu tiên làm mũi primer trước khi nhắc lại bằng vắc-xin biến thể.

     

    Chủng vắc-xin MEVAC™ IB VAR 2 đã được chứng minh an toàn từ 1 ngày tuổi, giữ hoạt động lông rung khí quản  mà không gây phản ứng lâm sàng. Đặc biệt, việc kết hợp đồng thời IB-Var 2 và IB-H120 ngay từ ngày đầu (phác đồ T04) mang lại khả năng bảo hộ chéo vượt trội chống lại chủng nguy hiểm IBV QX (GI-19), giúp gia tăng nhanh chóng hiệu giá kháng thể HI đặc hiệu (đạt  ở ngày 35) và tối ưu hóa khả năng giảm bài thải virus qua đường hô hấp, từ đó bảo vệ tối đa năng suất cho đàn gia cầm.

     

    Hà Ngân

     

    Xem thêm:

     

    Giải pháp kiểm soát bệnh hô hấp trên gia cầm từ Kemin Biologics

    Học viện Nông nghiệp Việt Nam ra mắt 6 phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO và 2 mô hình bệnh viện

    Quý độc giả có nhu cầu tìm hiểu thêm về các sản phẩm của Kemin Biologics, vui lòng liên hệ:

     

    Công ty TNHH Thương mại VINODA

    Địa chỉ: Tòa SH11 – A1 – TT2, Ngõ 120 Định Công, Phường Phương Liệt, Thành phố Hà Nội

    Số điện thoại: 0342718159 / 0967292215

    Email: contact@vinoda.vn

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Traphonh
  • Gia heo con

  • Huy Trần
  • ĐANG CẦN NGUỒN MUỐI GIÁ TỐT CHO NHÀ MÁY, XƯỞNG SẢN XUẤT HOẶC ĐẠI LÝ? Nếu anh/chị đang mua muối từ vài tấn đến hàng chục, hàng trăm tấn mỗi tháng, điều quan trọng không chỉ là giá. Quan trọng hơn là: ✅ Hàng phải ổn định ✅ Chất lượng đồng đều giữa các lô ✅ Có hồ sơ chất lượng rõ ràng ✅ Giao hàng đúng tiến độ ✅ Giá phù hợp để sản xuất lâu dài MUỐI MIỀN NAM chuyên cung cấp muối số lượng lớn cho khách hàng doanh nghiệp và đại lý trên toàn quốc. Các dòng muối cung cấp: Muối hạt thô – muối hột biển Muối sấy Muối tinh Muối sấy i-ốt Muối hạt thiên nhiên Phù hợp sử dụng cho: Nhà máy chế biến thực phẩm Sản xuất nước mắm – thủy hải sản Nhà máy gia vị Sản xuất bánh kẹo Thức ăn chăn nuôi ️ Bếp ăn công nghiệp Đại lý – nhà phân phối SỐ LƯỢNG CÀNG LỚN – GIÁ CÀNG TỐT ✔ Đơn hàng từ vài tấn đến hàng trăm tấn ✔ Bao 25kg – 50kg – Jumbo 1 tấn ✔ Hỗ trợ đóng gói theo yêu cầu ✔ Có thể hỗ trợ COA và hồ sơ sản phẩm ✔ Hỗ trợ mẫu test trước khi đặt số lượng lớn ✔ Giao hàng bằng xe tải hoặc container toàn quốc ✔ Hỗ trợ khách hàng lấy hàng định kỳ và hợp đồng dài hạn Anh/chị đang sử dụng muối mỗi tháng bao nhiêu tấn? Chỉ cần gửi: Loại muối cần mua Sản lượng dự kiến/tháng Địa điểm giao hàng Bên em sẽ gửi quy cách phù hợp + báo giá theo sản lượng thực tế. CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MUỐI MIỀN NAM Hotline/Zalo: 0947 491 629 NHẮN TIN NGAY ĐỂ NHẬN BẢNG GIÁ SỈ VÀ MẪU TEST Cần muối số lượng lớn – hãy để Muối Miền Nam báo giá cho anh/chị trước khi quyết định.

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.