Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 59.100 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 57.500 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 57.900 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 64.800 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 44.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 45.700 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 30.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 27.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 27.000 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 48.300 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 44.800 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 44.800 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.100 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.880 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.730 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.000 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.030 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 1.990 đ/quả
    •  
  • Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao

    Khi giá lợn hơi ở mức thuận lợi, mỗi kg tăng trọng đạt đúng kế hoạch có giá trị kinh tế cao hơn; tuy nhiên, đây không phải lý do để tăng chi phí phụ gia theo cảm tính. Trọng tâm cần là giảm phần dinh dưỡng bị thất thoát trong khẩu phần, bảo vệ chức năng ruột và theo dõi hiệu quả bằng chỉ số kỹ thuật thực tế của trại.

     

     

    Giá bán cao không tự tạo lợi nhuận

     

    Thị trường lợn hơi Việt Nam đã biến động mạnh trong giai đoạn 2025–đầu 2026. Đầu năm 2026, giá thu mua tại nhiều địa phương được ghi nhận khoảng 68.000–76.000 đồng/kg, có nơi lên đến 77.000 đồng/kg; nhưng trong năm trước, giá từng giảm về 48.000–50.000 đồng/kg ở một số giai đoạn. Đồng thời, chi phí thức ăn và con giống vẫn tạo áp lực đáng kể lên biên lợi nhuận chăn nuôi (USDA FAS, 2026).

     

    Trong bối cảnh giá bán cao, cơ hội không chỉ nằm ở việc tăng đàn hoặc kéo dài thời gian nuôi. Với trại có đàn lợn thịt đang vận hành ổn định, một hướng quản trị hợp lý hơn là rà soát các “điểm rò rỉ” dinh dưỡng: thức ăn không được tiêu hóa hết, amino acid không được hấp thu hiệu quả, năng lượng bị tiêu hao cho phản ứng viêm hoặc lợn tăng trọng chậm hơn kế hoạch. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR), ngày nuôi và tỷ lệ lợn đạt khối lượng xuất bán đúng lịch.

     

    Câu hỏi cần đặt ra không phải là “dùng thêm phụ gia nào để lợn lớn nhanh”, mà là: khẩu phần hiện tại đang bị giới hạn ở khâu nào — nguyên liệu, enzyme nội sinh, chất lượng ruột, mức ăn vào, môi trường chuồng nuôi hay kiểm soát bệnh?

     

    Thức ăn có thể chưa được khai thác hết

     

    Khẩu phần cho lợn thường chứa các thành phần mà enzyme tiêu hóa nội sinh không phân giải hoàn toàn. Ví dụ, polysaccharide phi tinh bột trong nguyên liệu thực vật, phytate liên kết phospho và khoáng, hoặc protein khó tiếp cận do cấu trúc nguyên liệu có thể làm giảm mức độ tiêu hóa thực tế. Khi đó, giá trị dinh dưỡng “trên công thức” không hoàn toàn chuyển thành năng lượng và dưỡng chất hấp thu tại ruột.

     

    Phân tích gộp trên 139 so sánh từ 67 công bố bình duyệt cho thấy tác động của enzyme ngoại sinh phụ thuộc rõ vào loại enzyme và nền nguyên liệu. Xylanase, tổ hợp xylanase–beta-glucanase, mannanase và protease có thể cải thiện tiêu hóa vật chất khô và năng lượng; riêng protease có cải thiện tiêu hóa hồi tràng protein. Tuy nhiên, kết quả về tăng trọng và FCR không đồng nhất giữa các nghiên cứu, phản ánh ảnh hưởng lớn của thành phần khẩu phần, giai đoạn nuôi và điều kiện trại (Torres-Pitarch et al., 2019).

     

    Vì vậy, bổ sung enzyme không nên được xem là biện pháp mặc định cho mọi công thức. Nếu khẩu phần sử dụng nhiều nguyên liệu giàu xơ khó tiêu, phụ phẩm, khô dầu hoặc nguyên liệu có biến động lớn về chất lượng, cần phân tích cụ thể nền cơ chất trước khi lựa chọn enzyme. Một sản phẩm có cơ chế phù hợp với beta-mannan không mặc nhiên phù hợp với khẩu phần bị giới hạn chủ yếu bởi phytate, xylan, protein hoặc tinh bột khó tiêu.

     

    Ruột là nơi quyết định giá trị thức ăn

     

    Lợn chỉ tăng trọng khi dưỡng chất được tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa hiệu quả. Ruột không chỉ là cơ quan hấp thu mà còn là hàng rào sinh học, nơi tương tác giữa thức ăn, hệ vi sinh, niêm mạc ruột và hệ miễn dịch. Khi hàng rào ruột bị ảnh hưởng bởi cai sữa, thay đổi khẩu phần đột ngột, mật độ nuôi, nhiệt độ, vệ sinh nước uống, độc tố nấm mốc hoặc áp lực mầm bệnh, lợn có thể giảm ăn hoặc tiêu tốn nhiều dưỡng chất hơn cho đáp ứng miễn dịch.

     

    Ở lợn sau cai sữa, quá trình chuyển từ sữa sang thức ăn khô thường làm giảm lượng ăn vào và gây áp lực lên khả năng tiêu hóa, lên men cũng như chức năng hàng rào của đường ruột. Các chiến lược dinh dưỡng trong giai đoạn này cần ưu tiên duy trì lượng ăn, tránh làm quá tải khả năng tiêu hóa chưa hoàn thiện và điều chỉnh dần tỷ lệ lysine:năng lượng khi chức năng tiêu hóa trưởng thành hơn (Pluske et al., 2021).

     

    Điều này giải thích vì sao cùng một khẩu phần, hiệu quả tăng trọng có thể khác biệt lớn giữa các trại. Một công thức cân đối trên phần mềm vẫn có thể cho FCR không đạt nếu lợn ăn kém, phân sống, biến động độ ẩm phân, tỷ lệ hao hụt tăng hoặc tổn thương ruột kéo dài. Chỉ tập trung nâng năng lượng hoặc đạm của khẩu phần trong khi bỏ qua chất lượng ruột có thể làm chi phí thức ăn tăng nhưng không tạo tương ứng lượng thịt xuất chuồng.

     

    Tăng trọng nhanh cần đi cùng hiệu quả thức ăn

     

    Ở thời điểm giá lợn hơi cao, mục tiêu kỹ thuật không nên đơn thuần là đẩy tốc độ tăng trọng bằng mọi giá. Tăng trọng có ý nghĩa kinh tế khi đi cùng lượng ăn phù hợp, FCR được kiểm soát, tỷ lệ hao hụt không tăng và chất lượng thân thịt đáp ứng yêu cầu đầu ra.

     

    Một chỉ số hữu ích để đánh giá là chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng:

     

    Chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng = FCR x giá thức ăn cho mỗi kg.

     

    Chỉ cần FCR cải thiện trong điều kiện giá thức ăn cao, khoản tiết kiệm tích lũy trên quy mô đàn có thể đáng kể. Nhưng mức cải thiện phải được xác nhận bằng số liệu của chính trại, không nên suy ra từ kết quả quảng cáo hoặc từ thử nghiệm ở điều kiện khác.

     

    Các chỉ tiêu nên được theo dõi theo từng lứa, từng khu chuồng và từng giai đoạn gồm: lượng ăn vào bình quân ngày, tăng trọng bình quân ngày (ADG), FCR, tỷ lệ lợn điều trị, tỷ lệ loại thải, tỷ lệ chết, ngày đạt khối lượng xuất bán và biến động phân. Nếu chỉ nhìn khối lượng cuối kỳ, trại có thể bỏ sót nguyên nhân khiến chi phí thức ăn/kg tăng trọng tăng lên.

     

    Nguyên tắc đầu tư đúng

     

    Trước hết, cần xác minh chất lượng và độ biến động của nguyên liệu: độ ẩm, protein, năng lượng, xơ, nguy cơ nấm mốc, cỡ hạt và độ đồng đều sau trộn. Đây là nền tảng vì enzyme, acid hữu cơ, probiotic hay chất hỗ trợ hấp thu không thể bù cho nguyên liệu hư hỏng, công thức thiếu cân đối hoặc sai lệch định lượng.

     

    Tiếp theo, cần xác định nhóm lợn và nút thắt cụ thể. Lợn cai sữa có biểu hiện ăn kém, phân không ổn định và thay đổi thức ăn đột ngột cần một cách tiếp cận khác với lợn vỗ béo có FCR tăng do khẩu phần nhiều phụ phẩm thực vật. Khi nguyên nhân chính là áp lực dịch bệnh, độc tố nấm mốc, nhiệt độ chuồng cao hoặc nước uống không đạt, ưu tiên phải là chẩn đoán thú y và kiểm soát điều kiện sản xuất; phụ gia dinh dưỡng chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ trong một chương trình tổng thể.

     

    Cuối cùng, mọi giải pháp cần được thử nghiệm có đối chứng trong điều kiện vận hành thực tế. Có thể so sánh ít nhất hai khu chuồng tương đồng về giống, khối lượng đầu vào, mật độ, khẩu phần nền và điều kiện nuôi. Việc đánh giá nên kéo dài đủ một giai đoạn nuôi, thay vì kết luận từ vài ngày đầu hoặc chỉ dựa trên quan sát cảm quan.

     

    Ứng dụng thực tế

     

    Với khẩu phần lợn sử dụng đa dạng nguyên liệu thực vật tại Việt Nam và có dấu hiệu tiêu hóa dưỡng chất chưa tối ưu, PIGCARE có thể được xem xét như một ví dụ về tổ hợp đa enzyme. Theo tài liệu sản phẩm, sản phẩm này được thiết kế cho lợn, chứa cellulase, alpha-amylase, xylanase, beta-galactosidase, mannanase, protease ở các điều kiện pH khác nhau và phytase; liều dùng được ghi là 250 g/tấn thức ăn.

     

    Về mặt nguyên lý, một tổ hợp enzyme chỉ có cơ sở phù hợp khi khẩu phần thực sự có các cơ chất tương ứng và việc phối trộn, ép viên, bảo quản vẫn duy trì hoạt lực cần thiết. Dữ liệu phân tích gộp cho thấy các phức hợp đa enzyme có thể cải thiện ADG và G:F ở lợn giai đoạn sinh trưởng–vỗ béo trong một số nền khẩu phần, nhưng mức đáp ứng thay đổi theo nguyên liệu và điều kiện nghiên cứu (Torres-Pitarch et al., 2019).

     

    Do đó, việc ứng dụng nên gắn với đánh giá khẩu phần, kiểm soát chất lượng trộn và theo dõi ADG, FCR, lượng ăn, tình trạng phân và chi phí thức ăn/kg tăng trọng trước–sau khi áp dụng.

     

    Kết luận

     

    Giá lợn hơi cao tạo điều kiện để tối ưu giá trị của từng kg tăng trọng, nhưng không làm giảm tầm quan trọng của kiểm soát chi phí và rủi ro thị trường. Đầu tư vào tiêu hóa và hấp thu chỉ có ý nghĩa khi xuất phát từ chẩn đoán đúng nút thắt của khẩu phần và đàn lợn.

     

    Cách tiếp cận bền vững là quản lý đồng thời nguyên liệu, công thức theo giai đoạn, chất lượng viên, nước uống, môi trường chuồng, an toàn sinh học và sức khỏe đường ruột. Giải pháp dinh dưỡng cần được lựa chọn theo cơ chế phù hợp, áp dụng trong điều kiện được kiểm soát và đánh giá bằng dữ liệu sản xuất thực tế.

     

    Ecovet Team

    Tài liệu tham khảo

     

    Pluske, J. R., Turpin, D. L., & Kim, J. C. (2021). Gastrointestinal tract (gut) health in the young pig. Animal Nutrition, 7(2), 187–196. https://doi.org/10.1016/j.aninu.2020.12.006.

     

    Torres-Pitarch, A., Manzanilla, E. G., Gardiner, G. E., & O’Doherty, J. V. (2019). Systematic review and meta-analysis of the effect of feed enzymes on growth and nutrient digestibility in grow-finisher pigs. Animal Feed Science and Technology, 257, 114227. https://doi.org/10.1016/j.anifeedsci.2019.114227.

     

    USDA Foreign Agricultural Service. (2026). Grain and Feed Annual: Vietnam. U.S. Department of Agriculture.

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Mai Phương
  • Sài gòn Sáng từ sáng sớm 5h sáng đến 9h sáng. Trưa từ 1h đến 2h trưa. Chiều tối từ 5h đến 7h mốc thời gian những người không có ý thức, ý thức tồi và kém văn hoá dẫn chó vào khuôn viên chung cư, sân tập thể dục, nơi trẻ em chơi đùa của chung cư phóng uế ngang nhiên bừa bãi, trong khi sân tập thể dục chung cư có gắn biển cảnh báo "Cấm" dẫn chó vào khuôn viên xung quanh chung cư và sân tập thể dục chung cư. Những người nuôi chó vô ý thức này vân xem như không có gì mặt vênh váo, có cả người ở trong chung cư dẫn có ị đáy.. Bảo vệ chung cư thì ngồi ở phía trong không bao giờ đi tuần theo khung giờ những người dẫn chó ị đáy. Sân tập thể dục chung cư thì không gắn Camera an ninh. Không riêng gì ở chung cư, vành đai tất các trường học trong Sài Gòn, lề đường và lòng lề đường hầu như đều có phân và nước tiểu chó rất hôi thối ô nhiễm môi trường sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng cộng đồng dân cư cần nghiêm khắc lên án báo động. Nhưng không thấy ban ngành địa phương dùng biện pháp, nghiệp vụ xử lý nghiêm khắc quyết tâm triệt để. Cứ làm cho có thì vấn nạn này mãi không loại bỏ và dẹp được. Đây là Bức xúc của tất cả cộng đồng dân cư. Biện pháp ngăn chặn ngăn ngừa lâu dài là quan trọng. Khẩn trương quyết liệt là điều cộng đồng dân cư hưởng ứng ủng hộ mạnh. Nói đi đôi với thực hiện nghiêm, không chần chờ trước các vấn nạn xã hội. Cần tiêu trừ các vấn nạn trừ ngay và luôn.

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.