Tác giả: TS. Dong Xiaoli – CJ BIO Trung Quốc
Biên dịch: TS. Nguyễn Đình Hải – CJ BIO Việt Nam
TÓM TẮT
Hai thử nghiệm được tiến hành để đánh giá hiệu quả của các tỷ lệ Arginine/Lysine (Arg/Lys) khác nhau lên thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Thử nghiệm đầu tiên, được thực hiện tại Viện Khoa học Chăn nuôi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) trong năm 2024, nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys bao gồm 69%, 79%, 89%, 99%, 109%, 119%, 129% và 139% đến hiệu suất tăng trưởng của vịt Bắc Kinh trong giai đoạn vịt con (1-14 ngày) và sinh trưởng (15-38 ngày). Kết quả thử nghiệm này cho thấy, ở giai đoạn vịt con, tỷ lệ Arg/Lys cho tối ưu tăng trưởng là 99%, còn với giai đoạn sinh trưởng là 89%.
Thử nghiệm thứ 2 được thiết kế dựa trên kết quả của thử nghiệm 1 và hợp tác với một trại thương mại vào năm 2025. Trong đó, 768 vịt con Cherry Valley 1 ngày tuổi được chia ngẫu nhiên thành 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 8 chuồng, mỗi ô chuồng có 24 con. Vịt được cho ăn 1 trong 4 khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tiêu hóa hồi tràng chuẩn hóa (SID Arg/Lys) 85%, 95%, 100% và 105% cho 2 giai đoạn vịt con (1-6 ngày), vịt sinh trưởng (17-39 ngày). Kết quả thử nghiệm thứ 2 cho thấy, vịt được cho ăn khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys là 95% đạt hiệu quả tăng trưởng tốt nhất cho toàn bộ thời gian nuôi. Hai thử nghiệm trên đã chứng minh Arg có tác động tích cực đến tăng trưởng của vịt thịt lông trắng.
BỐI CẢNH
Arginine (Arg) là axit amin thiết yếu đối với gia cầm và đảm nhiệm nhiều vai trò sinh lý quan trọng trong quá trình sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc bổ sung Arg trong khẩu phần và cho thấy, nhu cầu Arg của gà thịt ở mức cao hơn so với khuyến nghị của NRC (1994) (Harry A. Aguzey và cs, 2020). Các công ty giống gà thịt như Aviagen (2022) và Cobb500 đã khuyến nghị tỷ lệ SID Arg/Lys là 106-110% cho giai đoạn từ gà con đến kết thúc. Nghiên cứu trước đây của Corzo và cs (2021) cũng cho thấy, tỷ lệ Arg/Lys tiêu hóa tối ưu cho tăng trọng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn là 105% cho giai đoạn từ 1-14 ngày tuổi; 105% và 108% lần lượt cho 2 chỉ tiêu trên trong giai đoạn từ 1-25 ngày tuổi, trong khi đó 129% và 116% cho giai đoạn từ 25-42 ngày tuổi.
Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ tối ưu của Arg/Lys trên vịt thịt. Wang (2013) cho rằng, tỷ lệ tối ưu Arg/Lys tổng số của vịt thịt đực Bắc Kinh lông trắng từ 1-21 ngày tuổi là 95% cho tăng trưởng, 116% cho FCR, và 99% cho tăng tỷ lệ thịt ức. Tuy nhiên, hiện chưa có dữ liệu cho giai đoạn tăng trưởng. Vì vậy, các nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau đến hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt lông trắng trong toàn bộ giai đoạn nuôi.
PHƯƠNG PHÁP
Thiết kế thử nghiệm và quản lý vật nuôi
Thử nghiệm 1
Thử nghiệm được thực hiện tại Viện Khoa học chăn nuôi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) vào năm 2024. Thử nghiệm được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn vịt con (1-14 ngày tuổi) và giai đoạn tăng trưởng (15-38 ngày tuổi). Mục tiêu của thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau lên hiệu suất tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Ở giai đoạn vịt con, tổng cộng 640 con vịt đực Bắc Kinh 1 ngày tuổi được phân ngẫu nhiên thành 8 nghiệm thức, với 8 lần lặp cho mỗi nghiệm thức và 10 con mỗi lần lặp lại. Khẩu phần ăn đối chứng được thiết kế thiếu Arg (tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 69%) dựa trên tiêu chuẩn dinh dưỡng cho vịt thịt của Trung Quốc (NY/T2122-2012) (Bảng 1). Arginine tinh thể (độ tinh khiết là 98,5%) được bổ sung vào khẩu phần đối chứng với các hàm lượng 0,12; 0,24, 0,36; 0,48; 0,60; 0,72 và 0,84% để tạo ra các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tương ứng lần lượt là 69, 79, 89, 99, 109, 119, 129 và 139%.
Cho giai đoạn sinh trưởng tiếp theo (15-38 ngày), 500 con vịt đực Bắc Kinh 1 ngày tuổi được nuôi bằng khẩu phần thông thường cho đến 14 ngày tuổi. Vào ngày 15, 384 con vịt Bắc Kinh có cân nặng ban đầu tương đồng được chọn và chia ngẫu nhiên thành 8 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 8 lần lặp, mỗi lần lặp có 6 con. Khẩu phần đối chứng tiếp tục được thiết kế thiếu Arg (tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 69%) theo tiêu chuẩn dinh dưỡng cho vịt của Trung Quốc (NY/T2122-2012). Arginine tinh thể (độ tinh khiết là 98,5%) được bổ sung vào khẩu phần đối chứng với các hàm lượng 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,6 và 0,7% để tạo ra các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tương ứng lần lượt là 79, 89, 99, 109, 119, 129 và 139%.
Bảng 1. Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của khẩu phần đối chứng giai đoạn 1-14 ngày và 15-38 ngày
Thử nghiệm 2
Thử nghiệm được hợp tác tiến hành tại một trại thương mại vào năm 2025. Thử nghiệm này được thiết kế dựa trên kết quả của thử nghiệm 1. Tổng cộng 768 vịt Cherry Valley (1 dòng của vịt thịt lông trắng) 1 ngày tuổi được chọn và phân ngẫu nhiên vào 4 nhóm nghiệm thức mỗi nghiệm thức gồm 8 lần lặp và mỗi lần lặp 24 con. Khẩu phần đối chứng (không có bổ sung Arg tinh thể) có tỷ lệ Arg/Lys là 85% (Bảng 2). Các nghiệm thức còn lại được bổ sung Arg tinh thể để đạt được tỷ lệ SID Arg/Lys lần lượt là 95%, 100% và 105%. Thử nghiệm kéo dài 39 ngày, và được chia thành 2 giai đoạn: vịt con (1-16 ngày) và kết thúc (17-39 ngày).
Bảng 2. Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của khẩu phần đối chứng giai đoạn 1-16 ngày và 17-39 ngày
Quản lý cho ăn
Vịt được cho ăn và uống tự do trong suốt thời gian thử nghiệm. Việc chăm sóc, quản lý, chương trình tiêm vaccine cho đàn được thực hiện theo quy trình khuyến nghị của công ty giống dành cho vịt thịt.
Đánh giá năng suất tăng trưởng
Vào ngày bắt đầu và kết thúc của thử nghiệm mỗi giai đoạn, toàn bộ vịt được cân khối lượng và lượng thức ăn ăn vào được ghi nhận, để tính hệ số chuyển hóa thức ăn. Lượng ăn vào FCR được hiệu chỉnh theo tỷ lệ chết trong quá trình thử nghiệm.
Phân tích thống kê
Dữ liệu thử nghiệm được thể hiện dưới dạng giá trị trung bình ± Độ lệch chuẩn. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SAS phiên bản 10.0, sử dụng phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA). Khi phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa, phép thử nhiều khoảng Duncan (Duncan’s Multiple Range Test) được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Sự khác biệt giữa các nhóm nghiệm thức được coi là có ý nghĩa thống kê khi P<0.05.
KẾT QUẢ
Thử nghiệm 1
Khi tỷ lệ Arg/Lys tăng từ 69% lên 99%, tăng trọng của vịt thịt vào ngày thứ 14 tăng lên có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, khi tỷ lệ Arg/Lys vượt quá 99%, tăng trọng bắt đầu không có sự khác biệt đáng kể. Lượng ăn vào hàng ngày giảm đáng kể ở khẩu phần ăn có tỷ lệ Arg/Lys 69% so với các khẩu phần khác. Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn kém hơn rõ rệt ở nhóm đối chứng (tỷ lệ Arg/Lys 69%) so với các nhóm được bổ sung Arg ở mức cao hơn (Bảng 3).
Bảng 3. Ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần lên tăng trưởng trong giai đoạn 1-14 ngày tuổi
Như thể hiện ở bảng 4, tăng trọng trong giai đoạn 15-38 ngày tuổi được cải thiện có ý nghĩa thống kê ở các nhóm vịt cho ăn khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys từ 89% trở lên so với các nhóm có tỷ lệ 69% và 79%. Lượng ăn vào giảm rõ rệt ở nhóm có tỷ lệ Arg/Lys (69% và 79%). Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn của vịt được cải thiện khi sử dụng các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys cao hơn.
Bảng 4. Ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần lên tăng trưởng giai đoạn 15-38 ngày tuổi
Thử nghiệm 2
Như thể hiện tại bảng 5, tỷ lệ SID Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần không có tác động đáng kể đến tăng trưởng trong giai đoạn từ ngày 1-16 ngày tuổi. Tuy nhiên, trong giai đoạn 17-39 ngày tuổi, tỷ lệ SID Arg/Lys trong khẩu phần có ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trọng trung bình hàng ngày (P<0.05). Vịt được cho ăn khẩu phần với SID Arg/Lys ở mức 95% hoặc 105% có tăng trọng trung bình hàng ngày cao hơn đáng kể so với nhóm có SID Arg/Lys 100%. Vịt được cho ăn khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95% cho thấy hiệu quả tăng trưởng tốt nhất trong giai đoạn từ 17-39 ngày tuổi.
Bảng 5. Hiệu quả của các hàm lượng Arg/Lys tiêu hóa trong khẩu phần lên tăng trưởng
Trong toàn bộ thời gian nuôi (1-39 ngày tuổi) việc tăng tỷ lệ Arg/Lys trong khẩu phần có xu hướng cải thiện tăng trọng trung bình hàng ngày và trọng lượng cuối ở ngày 39 (P<0.1). Vịt có tăng trọng trung bình hàng ngày, trọng lượng cuối cùng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) tốt nhất cho toàn giai đoạn thử nghiệm (1-39 ngày tuổi) khi được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95%. Việc tiếp tục tăng bổ sung Arg vượt quá tỷ lệ này không cho thấy những cải thiện rõ rệt về hiệu quả tăng trưởng.
THẢO LUẬN
Trong thử nghiệm 1, ở giai đoạn 1-14 ngày tuổi hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt được cải thiện rõ rệt khi tăng tỷ lệ SID Arg/Lys tăng từ 69% lên 99%. Đối với giai đoạn 15-38 ngày tuổi vịt được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys từ 89% trở lên có hiệu quả tích cực đến tăng trưởng. Trong thí nghiệm 2, vịt thịt được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95% giúp cải thiện tăng trọng và FCR tối ưu nhất trong toàn giai đoạn nuôi. Những kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Wang (2013), tác giả đã chứng minh rằng khẩu phần bổ sung Arginine giúp cải thiện đáng kể tăng trọng, lượng ăn vào, FCR, và tỷ lệ cơ ức ở vịt Bắc Kinh giai đoạn 1-21 ngày tuổi.
Tác giả cũng báo cáo rằng, bổ sung Arg giúp kích thích sự phát triển của cơ đặc biệt là cơ ức trong giai đoạn từ 15-35 ngày tuổi (Wang, 2013). Từ đó kết luận, Arg có thể cải thiện hiệu suất tăng trưởng của vịt thịt. Tuy nhiên, khẩu phần đối chứng trong nghiên cứu này có khác biệt so với khẩu phần sử dụng trong thử nghiệm của Wang (2013). Trong thử nghiệm 1, bắp, lúa mì, bột gluten bắp, khô cải ngọt và DDGS bắp là những nguyên liệu chính để xây dựng khẩu phần ăn có tỷ lệ Arg/Lys thấp.
Trong thử nghiệm 2, khẩu phần ăn được xây dựng từ nguồn nguyên liệu đa dạng hơn. Trong khi đó, nghiên cứu của Wang (2013) chỉ sử dụng bắp và bột gluten bắp để xây dựng khẩu phần đối chứng- quá ít thành phần so với thực tế sản xuất thức ăn. Ngoài ra, các tác giả cũng đặt ra giả thuyết hàm lượng leucine cao trong bột gluten bắp có thể gây ảnh hưởng đến thành tích chăn nuôi của vịt thịt. Vì vậy, sự đa dạng của các nguyên liệu sử dụng trong công thức ở thử nghiệm này được cho là phản ánh điều kiện thực tế của sản xuất thương mại tốt hơn.
Nghiên cứu kết luận rằng, Arg có tác động tích cực đến hiệu quả sinh trưởng của vịt thịt. Trong thực tế, điều quan trọng là phải xác định được tỷ lệ Arg/Lys tối ưu khi xây dựng khẩu phần ăn. Hiện tại, một số nhà sản xuất thức ăn đang tham khảo tỷ lệ Arg/Lys của gà thịt trong khi một số khác lại tham khảo các tiêu chuẩn của ngành hoặc tiêu chuẩn quốc gia. Ví dụ như nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm (NY/T 2122-2012) tiêu chuẩn của ngành của Trung Quốc khuyến nghị tỷ lệ Arg/Lys tổng số cho vịt Bắc Kinh lần lượt là: là 86% (1-2 tuần tuổi), 100% (3-tuần tuổi) và 108% (6-7 tuần tuổi). Trong khi ở GB/T 45103-2024 (tiêu chuẩn quốc gia mới nhất của Trung Quốc về nhu cầu dinh dưỡng vịt thịt) đã tăng khuyến nghị tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 91% (0-2 tuần tuổi), 100% (3-5 tuần tuổi) và 100% (6 tuần tuổi đến xuất bán), các mức này tương ứng với tỷ lệ SID Arg/Lys khoảng 97%, 105% và 110%. Vì vậy, hiện vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các khuyến nghị về tỷ lệ Arg/Lys dành cho vịt thịt. Trong bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục phân tích tỷ lệ tối ưu của Arg/Lys dựa trên dữ liệu về hiệu quả tăng trưởng bằng mô hình mô hình hồi quy đường gãy bậc hai (quadratic broken-line regression model) nhằm xác định chính xác nhu cầu Arg của vịt thịt.
KẾT LUẬN
Việc bổ sung arginine, axit amin thiết yếu, giúp cải thiện đáng kể hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 99% là mức tối ưu trong giai đoạn khởi đầu (1-14 ngày tuổi), trong khi tỷ lệ Arg/Lys trên 89% giúp cải thiện sinh trưởng trong giai đoạn sinh trưởng (15-38 ngày tuổi).
Trong điều kiện chăn nuôi thương mại, tỷ lệ SID Arg/Lys là 95% mang lại hiệu quả tăng trưởng, bao gồm tăng trọng trung bình hằng ngày tăng cao hơn, khối lượng xuất bán lớn hơn và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn trong suốt 39 ngày nuôi. Việc tăng tỷ lệ Arg/Lys vượt quá mức tối ưu không mang lại thêm lợi ích đáng kể về hiệu quả tăng trưởng./.
Xem thêm:
Arginine giúp tăng tỷ lệ cơ ức ở vịt thịt, cải thiện năng suất sinh sản ở vịt đẻ
CJ BIO ra mắt các sản phẩm enzyme mới GrowinAct
- Nhu cầu lysine li>
- CJ BIO li>
- Tỷ lệ Arginine li>
- vịt thịt lông trắng li> ul>
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Phân biệt giới tính phôi gia cầm trong trứng tiến bộ công nghệ hướng tới phúc lợi động vật và sản xuất bền vững
- Gia cầm Việt Nam trước ngưỡng 2027: Không thể mãi cạnh tranh bằng “giá rẻ”
- Thúc đẩy chăn nuôi heo bền vững thông qua công nghệ chọn giống và cải tiến di truyền
- Hoa Kỳ: Kiểm soát an toàn TĂCN nuôi theo mô hình 7 lớp phòng ngừa
- Khai phá tiềm năng: Tryptophan – Giải pháp toàn diện cho năng suất gà đẻ và phúc lợi gà giống
- Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi
- Ånh hưởng của chế phẩm Bio-Lacto đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà H’mông
- Khả năng sinh sản và phúc lợi động vật của gà Lương Phượng đẻ trứng giống nuôi lồng
- Những thách thức trong chăn nuôi ảnh hưởng đến chất lượng thịt gà
Tin mới nhất
T7,10/10/2026
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
- Giá heo hơi ngày 10/10 giảm còn 51.000 đồng/kg, áp lực thị trường gia tăng
- Lai bò thịt trên nền bò sữa: Từ giá trị của mỗi lần phối giống đến khát vọng xây dựng bò thịt chất lượng cao mang thương hiệu Việt
- Khoa Chăn nuôi (VNUA) kỷ niệm 70 năm: Giữ lửa truyền thống, thắp sáng tương lai
- Sinh viên Chăn nuôi – Thú y trước yêu cầu mới của thị trường lao động
- Khoa Thú y (VNUA) 70 năm thành lập: Kết nối thế hệ – Dẫn dắt tương lai
- Đồng Nai khởi tố 2 bị can trong vụ 2.349 con heo chứa chất cấm
- Nữ sinh Việt và dự án “Giải bài toán lao động thủ công trong chăn nuôi bò”
- Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và ANOVA Agri ký kết hợp tác giai đoạn 2026–2030
- Giá heo hơi ngày 9/10: Thị trường chạm đáy mới, người nuôi thêm áp lực
- Ngành gia cầm Malaysia: Hướng tới tăng năng lực sản xuất và ứng dụng công nghệ
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng





























Bình luận mới nhất