Tỷ lệ Arginine/Lysine cần thiết để cải thiện thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo thịt hơi miền Bắc 59.300 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Trung 57.600 đ/kg
    • Giá heo thịt hơi miền Nam 58.000 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Bắc 74.800 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Trung 42.200 đ/kg
    • Giá gà thịt lông màu miền Nam 43.700 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Bắc 32.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Trung 29.000 đ/kg
    • Giá gà chuyên thịt miền Nam 29.000 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Bắc 45.300 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Trung 39.100 đ/kg
    • Giá vịt thịt miền Nam 37.600 đ/kg
    • Giá trứng gà miền Bắc 2.100 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Trung 1.880 đ/quả
    • Giá trứng gà miền Nam 1.730 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Bắc 2.050 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Trung 2.080 đ/quả
    • Giá trứng vịt miền Nam 2.090 đ/quả
    •  
  • Tỷ lệ Arginine/Lysine cần thiết để cải thiện thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng

    Tác giả: TS. Dong Xiaoli – CJ BIO Trung Quốc

    Biên dịch: TS. Nguyễn Đình Hải – CJ BIO Việt Nam

     

     

    TÓM TẮT

     

    Hai thử nghiệm được tiến hành để đánh giá hiệu quả của các tỷ lệ Arginine/Lysine (Arg/Lys) khác nhau lên thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Thử nghiệm đầu tiên, được thực hiện tại Viện Khoa học Chăn nuôi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) trong năm 2024, nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys bao gồm 69%, 79%, 89%, 99%, 109%, 119%, 129% và 139% đến hiệu suất tăng trưởng của vịt Bắc Kinh trong giai đoạn vịt con (1-14 ngày) và sinh trưởng (15-38 ngày). Kết quả thử nghiệm này cho thấy, ở giai đoạn vịt con, tỷ lệ Arg/Lys cho tối ưu tăng trưởng là 99%, còn với giai đoạn sinh trưởng là 89%.

     

    Thử nghiệm thứ 2 được thiết kế dựa trên kết quả của thử nghiệm 1 và hợp tác với một trại thương mại vào năm 2025. Trong đó, 768 vịt con Cherry Valley 1 ngày tuổi được chia ngẫu nhiên thành 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 8 chuồng, mỗi ô chuồng có 24 con. Vịt được cho ăn 1 trong 4 khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tiêu hóa hồi tràng chuẩn hóa (SID Arg/Lys) 85%, 95%, 100% và 105% cho 2 giai đoạn vịt con (1-6 ngày), vịt sinh trưởng (17-39 ngày). Kết quả thử nghiệm thứ 2 cho thấy, vịt được cho ăn khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys là 95% đạt hiệu quả tăng trưởng tốt nhất cho toàn bộ thời gian nuôi. Hai thử nghiệm trên đã chứng minh Arg có tác động tích cực đến tăng trưởng của vịt thịt lông trắng.

     

    BỐI CẢNH

     

    Arginine (Arg) là axit amin thiết yếu đối với gia cầm và đảm nhiệm nhiều vai trò sinh lý quan trọng trong quá trình sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc bổ sung Arg trong khẩu phần và cho thấy, nhu cầu Arg của gà thịt ở mức cao hơn so với khuyến nghị của NRC (1994) (Harry A. Aguzey và cs, 2020). Các công ty giống gà thịt như Aviagen (2022) và Cobb500 đã khuyến nghị tỷ lệ SID Arg/Lys là 106-110% cho giai đoạn từ gà con đến kết thúc. Nghiên cứu trước đây của Corzo và cs (2021) cũng cho thấy, tỷ lệ Arg/Lys tiêu hóa tối ưu cho tăng trọng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn là 105% cho giai đoạn từ 1-14 ngày tuổi; 105% và 108% lần lượt cho 2 chỉ tiêu trên trong giai đoạn từ 1-25 ngày tuổi, trong khi đó 129% và 116% cho giai đoạn từ 25-42 ngày tuổi.

     

    Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ tối ưu của Arg/Lys trên vịt thịt. Wang (2013) cho rằng, tỷ lệ tối ưu Arg/Lys tổng số của vịt thịt đực Bắc Kinh lông trắng từ 1-21 ngày tuổi là 95% cho tăng trưởng, 116% cho FCR, và 99% cho tăng tỷ lệ thịt ức. Tuy nhiên, hiện chưa có dữ liệu cho giai đoạn tăng trưởng. Vì vậy, các nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau đến hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt lông trắng trong toàn bộ giai đoạn nuôi.

     

    PHƯƠNG PHÁP

     

    Thiết kế thử nghiệm và quản lý vật nuôi

     

    Thử nghiệm 1

     

    Thử nghiệm được thực hiện tại Viện Khoa học chăn nuôi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS) vào năm 2024. Thử nghiệm được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn vịt con (1-14 ngày tuổi) và giai đoạn tăng trưởng (15-38 ngày tuổi). Mục tiêu của thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau lên hiệu suất tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Ở giai đoạn vịt con, tổng cộng 640 con vịt đực Bắc Kinh 1 ngày tuổi được phân ngẫu nhiên thành 8 nghiệm thức, với 8 lần lặp cho mỗi nghiệm thức và 10 con mỗi lần lặp lại. Khẩu phần ăn đối chứng được thiết kế thiếu Arg (tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 69%) dựa trên tiêu chuẩn dinh dưỡng cho vịt thịt của Trung Quốc (NY/T2122-2012) (Bảng 1). Arginine tinh thể (độ tinh khiết là 98,5%) được bổ sung vào khẩu phần đối chứng với các hàm lượng 0,12; 0,24, 0,36; 0,48; 0,60; 0,72 và 0,84% để tạo ra các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tương ứng lần lượt là 69, 79, 89, 99, 109, 119, 129 và 139%.

     

    Cho giai đoạn sinh trưởng tiếp theo (15-38 ngày), 500 con vịt đực Bắc Kinh 1 ngày tuổi được nuôi bằng khẩu phần thông thường cho đến 14 ngày tuổi. Vào ngày 15, 384 con vịt Bắc Kinh có cân nặng ban đầu tương đồng được chọn và chia ngẫu nhiên thành 8 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 8 lần lặp, mỗi lần lặp có 6 con. Khẩu phần đối chứng tiếp tục được thiết kế thiếu Arg (tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 69%) theo tiêu chuẩn dinh dưỡng cho vịt của Trung Quốc (NY/T2122-2012). Arginine tinh thể (độ tinh khiết là 98,5%) được bổ sung vào khẩu phần đối chứng với các hàm lượng 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,6 và 0,7% để tạo ra các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys tương ứng lần lượt là 79, 89, 99, 109, 119, 129 và 139%.

     

    Bảng 1. Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của khẩu phần đối chứng giai đoạn 1-14 ngày và 15-38 ngày

     

     

     

    Thử nghiệm 2

     

    Thử nghiệm được hợp tác tiến hành tại một trại thương mại vào năm 2025. Thử nghiệm này được thiết kế dựa trên kết quả của thử nghiệm 1. Tổng cộng 768 vịt Cherry Valley (1 dòng của vịt thịt lông trắng) 1 ngày tuổi được chọn và phân ngẫu nhiên vào 4 nhóm nghiệm thức mỗi nghiệm thức gồm 8 lần lặp và mỗi lần lặp 24 con. Khẩu phần đối chứng (không có bổ sung Arg tinh thể) có tỷ lệ Arg/Lys là 85% (Bảng 2). Các nghiệm thức còn lại được bổ sung Arg tinh thể để đạt được tỷ lệ SID Arg/Lys lần lượt là 95%, 100% và 105%. Thử nghiệm kéo dài 39 ngày, và được chia thành 2 giai đoạn: vịt con (1-16 ngày) và kết thúc (17-39 ngày).

     

    Bảng 2. Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của khẩu phần đối chứng giai đoạn 1-16 ngày và 17-39 ngày

     

     

    Quản lý cho ăn

     

    Vịt được cho ăn và uống tự do trong suốt thời gian thử nghiệm. Việc chăm sóc, quản lý, chương trình tiêm vaccine cho đàn được thực hiện theo quy trình khuyến nghị của công ty giống dành cho vịt thịt.

     

    Đánh giá năng suất tăng trưởng

     

    Vào ngày bắt đầu và kết thúc của thử nghiệm mỗi giai đoạn, toàn bộ vịt được cân khối lượng và lượng thức ăn ăn vào được ghi nhận, để tính hệ số chuyển hóa thức ăn. Lượng ăn vào FCR được hiệu chỉnh theo tỷ lệ chết trong quá trình thử nghiệm.

     

    Phân tích thống kê

     

    Dữ liệu thử nghiệm được thể hiện dưới dạng giá trị trung bình ± Độ lệch chuẩn. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SAS phiên bản 10.0, sử dụng phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA). Khi phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa, phép thử nhiều khoảng Duncan (Duncan’s Multiple Range Test) được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Sự khác biệt giữa các nhóm nghiệm thức được coi là có ý nghĩa thống kê khi P<0.05.

     

    KẾT QUẢ

     

    Thử nghiệm 1

     

    Khi tỷ lệ Arg/Lys tăng từ 69% lên 99%, tăng trọng của vịt thịt vào ngày thứ 14 tăng lên có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, khi tỷ lệ Arg/Lys vượt quá 99%, tăng trọng bắt đầu không có sự khác biệt đáng kể. Lượng ăn vào hàng ngày giảm đáng kể ở khẩu phần ăn có tỷ lệ Arg/Lys 69% so với các khẩu phần khác. Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn kém hơn rõ rệt ở nhóm đối chứng (tỷ lệ Arg/Lys 69%) so với các nhóm được bổ sung Arg ở mức cao hơn (Bảng 3).

     

    Bảng 3. Ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần lên tăng trưởng trong giai đoạn 1-14 ngày tuổi

     

    Như thể hiện ở bảng 4, tăng trọng trong giai đoạn 15-38 ngày tuổi được cải thiện có ý nghĩa thống kê ở các nhóm vịt cho ăn khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys từ 89% trở lên so với các nhóm có tỷ lệ 69% và 79%. Lượng ăn vào giảm rõ rệt ở nhóm có tỷ lệ Arg/Lys (69% và 79%). Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn của vịt được cải thiện khi sử dụng các khẩu phần có tỷ lệ Arg/Lys cao hơn.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của các tỷ lệ Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần lên tăng trưởng giai đoạn 15-38 ngày tuổi

     

    Thử nghiệm 2

     

    Như thể hiện tại bảng 5, tỷ lệ SID Arg/Lys khác nhau trong khẩu phần không có tác động đáng kể đến tăng trưởng trong giai đoạn từ ngày 1-16 ngày tuổi. Tuy nhiên, trong giai đoạn 17-39 ngày tuổi, tỷ lệ SID Arg/Lys trong khẩu phần có ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trọng trung bình hàng ngày (P<0.05). Vịt được cho ăn khẩu phần với SID Arg/Lys ở mức 95% hoặc 105% có tăng trọng trung bình hàng ngày cao hơn đáng kể so với nhóm có SID Arg/Lys 100%. Vịt được cho ăn khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95% cho thấy hiệu quả tăng trưởng tốt nhất trong giai đoạn từ 17-39 ngày tuổi.

     

    Bảng 5. Hiệu quả của các hàm lượng Arg/Lys tiêu hóa trong khẩu phần lên tăng trưởng

     

    Trong toàn bộ thời gian nuôi (1-39 ngày tuổi) việc tăng tỷ lệ Arg/Lys trong khẩu phần có xu hướng cải thiện tăng trọng trung bình hàng ngày và trọng lượng cuối ở ngày 39 (P<0.1). Vịt có tăng trọng trung bình hàng ngày, trọng lượng cuối cùng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) tốt nhất cho toàn giai đoạn thử nghiệm (1-39 ngày tuổi) khi được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95%. Việc tiếp tục tăng bổ sung Arg vượt quá tỷ lệ này không cho thấy những cải thiện rõ rệt về hiệu quả tăng trưởng.

     

    THẢO LUẬN

     

    Trong thử nghiệm 1, ở giai đoạn 1-14 ngày tuổi hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt được cải thiện rõ rệt khi tăng tỷ lệ SID Arg/Lys tăng từ 69% lên 99%. Đối với giai đoạn 15-38 ngày tuổi vịt được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys từ 89% trở lên có hiệu quả tích cực đến tăng trưởng. Trong thí nghiệm 2, vịt thịt được nuôi khẩu phần có tỷ lệ SID Arg/Lys ở mức 95% giúp cải thiện tăng trọng và FCR tối ưu nhất trong toàn giai đoạn nuôi. Những kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Wang (2013), tác giả đã chứng minh rằng khẩu phần bổ sung Arginine giúp cải thiện đáng kể tăng trọng, lượng ăn vào, FCR, và tỷ lệ cơ ức ở vịt Bắc Kinh giai đoạn 1-21 ngày tuổi.

     

    Tác giả cũng báo cáo rằng, bổ sung Arg giúp kích thích sự phát triển của cơ đặc biệt là cơ ức trong giai đoạn từ 15-35 ngày tuổi (Wang, 2013). Từ đó kết luận, Arg có thể cải thiện hiệu suất tăng trưởng của vịt thịt. Tuy nhiên, khẩu phần đối chứng trong nghiên cứu này có khác biệt so với khẩu phần sử dụng trong thử nghiệm của Wang (2013). Trong thử nghiệm 1, bắp, lúa mì, bột gluten bắp, khô cải ngọt và DDGS bắp là những nguyên liệu chính để xây dựng khẩu phần ăn có tỷ lệ Arg/Lys thấp.

     

    Trong thử nghiệm 2, khẩu phần ăn được xây dựng từ nguồn nguyên liệu đa dạng hơn. Trong khi đó, nghiên cứu của Wang (2013) chỉ sử dụng bắp và bột gluten bắp để xây dựng khẩu phần đối chứng- quá ít thành phần so với thực tế sản xuất thức ăn. Ngoài ra, các tác giả cũng đặt ra giả thuyết hàm lượng leucine cao trong bột gluten bắp có thể gây ảnh hưởng đến thành tích chăn nuôi của vịt thịt. Vì vậy, sự đa dạng của các nguyên liệu sử dụng trong công thức ở thử nghiệm này được cho là phản ánh điều kiện thực tế của sản xuất thương mại tốt hơn.

     

    Nghiên cứu kết luận rằng, Arg có tác động tích cực đến hiệu quả sinh trưởng của vịt thịt. Trong thực tế, điều quan trọng là phải xác định được tỷ lệ Arg/Lys tối ưu khi xây dựng khẩu phần ăn. Hiện tại, một số nhà sản xuất thức ăn đang tham khảo tỷ lệ Arg/Lys của gà thịt trong khi một số khác lại tham khảo các tiêu chuẩn của ngành hoặc tiêu chuẩn quốc gia. Ví dụ như nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm (NY/T 2122-2012) tiêu chuẩn của ngành của Trung Quốc khuyến nghị tỷ lệ Arg/Lys tổng số cho vịt Bắc Kinh lần lượt là: là 86% (1-2 tuần tuổi), 100% (3-tuần tuổi) và 108% (6-7 tuần tuổi). Trong khi ở GB/T 45103-2024 (tiêu chuẩn quốc gia mới nhất của Trung Quốc về nhu cầu dinh dưỡng vịt thịt) đã tăng khuyến nghị tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 91% (0-2 tuần tuổi), 100% (3-5 tuần tuổi) và 100% (6 tuần tuổi đến xuất bán), các mức này tương ứng với tỷ lệ SID Arg/Lys khoảng 97%, 105% và 110%. Vì vậy, hiện vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các khuyến nghị về tỷ lệ Arg/Lys dành cho vịt thịt. Trong bước tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục phân tích tỷ lệ tối ưu của Arg/Lys dựa trên dữ liệu về hiệu quả tăng trưởng bằng mô hình mô hình hồi quy đường gãy bậc hai (quadratic broken-line regression model) nhằm xác định chính xác nhu cầu Arg của vịt thịt.

     

    KẾT LUẬN

     

    Việc bổ sung arginine, axit amin thiết yếu, giúp cải thiện đáng kể hiệu quả tăng trưởng của vịt thịt lông trắng. Tỷ lệ Arg/Lys tổng số là 99% là mức tối ưu trong giai đoạn khởi đầu (1-14 ngày tuổi), trong khi tỷ lệ Arg/Lys trên 89% giúp cải thiện sinh trưởng trong giai đoạn sinh trưởng (15-38 ngày tuổi).

     

    Trong điều kiện chăn nuôi thương mại, tỷ lệ SID Arg/Lys là 95% mang lại hiệu quả tăng trưởng, bao gồm tăng trọng trung bình hằng ngày tăng cao hơn, khối lượng xuất bán lớn hơn và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn trong suốt 39 ngày nuôi. Việc tăng tỷ lệ Arg/Lys vượt quá mức tối ưu không mang lại thêm lợi ích đáng kể về hiệu quả tăng trưởng./.

     

    Xem thêm:

     

    Arginine giúp tăng tỷ lệ cơ ức ở vịt thịt, cải thiện năng suất sinh sản ở vịt đẻ

    CJ BIO ra mắt các sản phẩm enzyme mới GrowinAct

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Traphonh
  • Gia heo con

  • Huy Trần
  • ĐANG CẦN NGUỒN MUỐI GIÁ TỐT CHO NHÀ MÁY, XƯỞNG SẢN XUẤT HOẶC ĐẠI LÝ? Nếu anh/chị đang mua muối từ vài tấn đến hàng chục, hàng trăm tấn mỗi tháng, điều quan trọng không chỉ là giá. Quan trọng hơn là: ✅ Hàng phải ổn định ✅ Chất lượng đồng đều giữa các lô ✅ Có hồ sơ chất lượng rõ ràng ✅ Giao hàng đúng tiến độ ✅ Giá phù hợp để sản xuất lâu dài MUỐI MIỀN NAM chuyên cung cấp muối số lượng lớn cho khách hàng doanh nghiệp và đại lý trên toàn quốc. Các dòng muối cung cấp: Muối hạt thô – muối hột biển Muối sấy Muối tinh Muối sấy i-ốt Muối hạt thiên nhiên Phù hợp sử dụng cho: Nhà máy chế biến thực phẩm Sản xuất nước mắm – thủy hải sản Nhà máy gia vị Sản xuất bánh kẹo Thức ăn chăn nuôi ️ Bếp ăn công nghiệp Đại lý – nhà phân phối SỐ LƯỢNG CÀNG LỚN – GIÁ CÀNG TỐT ✔ Đơn hàng từ vài tấn đến hàng trăm tấn ✔ Bao 25kg – 50kg – Jumbo 1 tấn ✔ Hỗ trợ đóng gói theo yêu cầu ✔ Có thể hỗ trợ COA và hồ sơ sản phẩm ✔ Hỗ trợ mẫu test trước khi đặt số lượng lớn ✔ Giao hàng bằng xe tải hoặc container toàn quốc ✔ Hỗ trợ khách hàng lấy hàng định kỳ và hợp đồng dài hạn Anh/chị đang sử dụng muối mỗi tháng bao nhiêu tấn? Chỉ cần gửi: Loại muối cần mua Sản lượng dự kiến/tháng Địa điểm giao hàng Bên em sẽ gửi quy cách phù hợp + báo giá theo sản lượng thực tế. CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MUỐI MIỀN NAM Hotline/Zalo: 0947 491 629 NHẮN TIN NGAY ĐỂ NHẬN BẢNG GIÁ SỈ VÀ MẪU TEST Cần muối số lượng lớn – hãy để Muối Miền Nam báo giá cho anh/chị trước khi quyết định.

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.