5 yếu tố cần xem xét trong một chương trình chăn nuôi heo không kháng sinh - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 74.000 - 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 70.000 - 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 74.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 60.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 67.000 - 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi An Giang 67.000 đ/kg
    •  
  • 5 yếu tố cần xem xét trong một chương trình chăn nuôi heo không kháng sinh

    Nhu cầu về sản phẩm động vật không kháng sinh ngày càng lớn đang làm thay đổi quan điểm của nhiều nhà sản xuất chăn nuôi. ách thức của việc trở thành một hệ thống chăn nuôi không kháng sinh (ABF) là rất lớn, đặc biệt là vì kháng sinh đã được sử dụng trong ngành chăn nuôi qua 70 năm. Các nhà chăn nuôi heo ngày nay đã dựa vào kháng sinh để có được năng suất cao hơn.

     

    Ở Bắc Mỹ, phần lớn các nhà chăn nuôi chưa có kinh nghiệm về nuôi heo mà không kháng sinh, và do đó quyết định có thể bị áp đảo. Một số nhà chăn nuôi đã đi con đường này rồi, quá trình chuyển đổi đã mang lại sự chú ý tích cực, trong khi đối với những nhà chăn nuôi khác, sự thiệt hại kinh tế làm mất đi động cơ thúc đẩy. Tại BIOMIN, chúng tôi đã làm việc chặt chẽ cùng với các ngành chăn nuôi heo trên toàn cầu trong nhiều thập kỷ để đạt được những giải pháp không kháng sinh hiệu quả, dựa trên cơ sở khoa học.

     

    Nói chung, các trang trại có một tình trạng sức khỏe tốt thì có một sự chuyển đổi nhẹ nhàng hơn so với các trang trại có một lịch sử bị vấn đề đường ruột và hô hấp. ông thường, các trang trại này nằm cách xa các trang trại khác, tạo ra một bức tường lửa cao hơn cho các tác nhân gây bệnh-báo hiệu rằng nền tảng của một hệ thống sản xuất ABF là công tác phòng chống. Hơn nữa, việc thực hành vệ sinh và an toàn sinh học nghiêm ngặt phải được thực hiện. Quay lại điểm xuất phát để tranh luận sẽ cung cấp cơ sở để thực hiện chiến lược có thể góp phần giảm bớt stress và tăng cường sự phát triển. Đặc biệt, chúng ta xem xét 5 yếu tố: chất lượng, độc tố nấm mồc, tuổi cai sữa, biện pháp phòng ngừa và năng suất.

     

    Chất lượng nước

     

    Chất lượng nước thường bị bỏ qua, mặc dù lượng nước uống gấp 2–3 lần lượng thức ăn ăn vào. Phân tích nước là cần thiết để hiểu các mối nguy hiểm tiềm năng hiện nay. Đường ống nước có thể cho phép sự tăng trưởng của nấm men, nấm mốc và vi khuẩn. Một thực tế được đặc biệt khuyến cáo là làm sạch đường ống dẫn nước sau khi ngừng nuôi. Ở gia cầm, việc sử dụng các axít hữu cơ trong nước đã giúp cải thiện vệ sinh nước. Tuy nhiên, làm sạch đường ống dẫn nước là điều cần thiết để phát huy thành công lợi ích của axit hữu cơ trong nước.

     

    Độc tố nấm mốc (ĐTNM)

     

    ĐTNM là những chất chuyển hóa độc do nấm mốc sinh ra. ĐTNM thường được tìm thấy ở bắp, DDGS và bột đậu nành, vv. Chúng có thể hiện diện trong dầu thực vật như dầu bắp, dầu đậu nành. ức ăn bị nhiễm ĐTNM gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của heo, đặc biệt là heo con.

     

    ĐTNM góp phần làm tăng cao nhiễm trùng đường ruột và hô hấp. Ví dụ, deoxynivalenol phá vỡ tính toàn vẹn của tế bào biểu mô cho phép sự xâm lược của vi khuẩn gây bệnh (Vandenbroucke và cộng sự, 2011). Ngoài ra, ĐTNM làm giảm hệ miễn dịch. ĐTNM có thể làm giảm hiệu quả của vắc xin, một nền tảng trong chương trình ABF, và có thể làm giảm khả năng vượt qua bệnh hô hấp của heo.

     

    Một kiến thức cơ bản về các loại ĐTNM và hoạt động chống lại chúng có thể giúp bạn hiểu rõ các nguy cơ. Một sự quản lý nguy cơ do độc tố nấm mốc thích hợp có thể giúp ích rất nhiều trong phòng ngừa bệnh, đó là lý do tại sao rất đáng giá để xem xét những điều sau đây:

     

    • Bảo quản thức ăn thích hợp. Làmgiảm sự xâm nhập của độ ẩm và nấm mốc. Để trống các thùng thường xuyên hơn để giảm cơ hội tạo thành nấm mốc.

     

    • Giám sát thường xuyên thức ăn. Khuyến cáo xét nghiệm ĐTNM thường xuyên ở nguyên liệu và thức ăn thành phẩm dùng phương pháp lấy mẫu thích hợp.

     

    • Biotransformation – Chuyển hóa sinh học. Kỹ thuật này đại diện cho một sự tiếp cận tiên tiến chuyển hóa các độc tố thành chất không độc hại. Tính an toàn và hiệu quả của phương pháp đã nói được công nhận tại các nước chẳng hạn như Liên minh châu Âu.

     

    Tuổi cai sữa

     

    Đường tiêu hóa (GIT) hấp thụ chất dinh dưỡng và giảm thiểu lối vào của tác nhân gây bệnh. Một đường tiêu hóa khỏe mạnh và có khả năng sẽ đảm bảo một khoảng thời gian phát triển thành công. Tuy nhiên, sự gián đoạn trong việc phát triển GIT xảy ra trong quá trình cai sữa và có thể mang lại hậu quả lâu dài về sau. Một đường tiêu hóa chức năng có thể tạo ra sự kích hoạt đầy đủ hệ thống miễn dịch mà không đạt đến sự quá kích. Sự kích hoạt quá độ của hệ miễn dịch có thể mạnh mẽ rất tai hại cho heo còn non. Người ta hiểu rằng là heo còn non, các tế bào miễn dịch thích ứng với hệ miễn dịch niêm mạc có thể đáp ứng nhanh hơn với sự hiện diện của các tác nhân gây bệnh. Do đó, hệ miễn dịch sẽ hiệu quả hơn trong kiểm soát sự lan truyền bệnh.

     

    McLamb và cộng sự (2013) đã chứng minh rằng heo con được cai sữa ở ngày tuổi 16 và 18, và sau đó được chủng với E. coli vào ngày tuổi 35, đã xuất hiện nhiều dấu hiệu lâm sàng về bệnh E. coli hơn so với heo con được cai sữa vào ngày tuổi 20 và cũng được chủng với E. coli. Phân của heo con cai sữa vào ngày 16 là 60% mềm hơn so với phân của heo con cai sữa vào ngày 20, và phân của heo con cai sữa vào ngày 18 là 25% mềm hơn so với heo con cai sữa vào ngày 20. Ngoài ra, việc tăng tuổi cai sữa làm giảm tỷ lệ chết từ sau cai sữa đến khi xuất chuồng. Main và cộng sự (2004) đã tường trình 6,8% và 3,7% tỷ lệ chết khi heo con cai sữa vào ngày tuổi 18 và 21 theo thứ tự.

     

    Tăng tuổi cai sữa sẽ mang lại lợi ích cho một hệ thống nuôi truyền thống và ABF; Tuy nhiên, không gian và việc vận chuyển heo đến các chuồng dưỡng (nursery) có thể là những yếu tố hạn chế. Trong khi lựa chọn một trại nái để cung cấp heo ABF, người ta khuyến cáo cần xem xét những trại heo nái có tách cai sữa trong một tuần. Điều này sẽ làm giảm số lượng heo con cai sữa dưới 21 ngày tuổi.

    Phòng chống những thách thức đường ruột

     

    Thuốc kháng sinh dùng để phòng ngừa, khống chế, và điều trị bệnh đường ruột gây ra do vi khuẩn. Sự kết hợp với các biện pháp an toàn sinh học và chương trình tiêm phòng vắc xin tốt, các axit hữu cơ và các chất chiết xuất thực vật có thể giúp nhà chăn nuôi giảm hoặc loại bỏ sử dụng kháng sinh cho mục đích phòng ngừa.

     

    Ở giai đoạn sau cai sữa, E. coli là nguyên nhân chính gây tiêu chảy, trong khi Salmonella spp. và Lawsonia predominate chiếm ưu thế trong giai đoạn tăng trưởng-vỗ béo. Khống chế được mật độ những vi khuẩn này sẽ giảm được nguy cơ bùng phát bệnh. Môi trường axit hỗ trợ cho sự phát triển của vi khuẩn có lợi và không khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Axit hữu cơ có khả năng xâm nhập vào vi khuẩn và làm thay đổi độ pH nội bào. Giảm độ pH nội bào làm suy yếu chức năng chuyển hóa tế bào, gây chết vi khuẩn. Do đó, các tính chất kháng khuẩn của axit hữu cơ dựa vào khả năng xâm nhập vào vi khuẩn. Axit hữu cơ với tính chất kháng khuẩn lớn hơn có pKa gần 4, và trọng lượng phân tử nhỏ.

     

    Hơn nữa, các hợp chất chiết xuất thực vật (phytogenic) đã tạo được sự chú ý đặc biệt trong những năm qua. eo Khảo sát Phụ gia thức ăn Phytogenic của BIOMIN 2017, tác dụng kháng khuẩn của phụ gia phytogenic được xếp hạng là lý do thứ hai phổ biến nhất mà số người hồi đáp đã áp dụng cho thức ăn chăn nuôi.

     

    Phytogenics là những chất chuyển hóa thực vật có khả năng làm giảm sự tăng trưởng của vi khuẩn. Cơ chế hoạt động thay đổi tùy theo đặc điểm hóa học của chúng. Ví dụ, carvacrol và thymol chủ yếu được tìm thấy ở dầu oregano, làm thay đổi thành phần axit béo của các màng vi khuẩn và làm xáo trộn sự toàn vẹn của màng. Cinnamaldehyde, tìm thấy ở dầu của vỏ cây quế, làm suy yếu sự tăng sinh của vi khuẩn bằng cách ngăn chặn sự phân bổ vị trí phân chia. Vi khuẩn giãn dài ra và không phân chia được (Domadia và cộng sự, 2007). Các tính chất kháng khuẩn của các axit hữu cơ và phytogenic có thể cộng hưởng. Một sự kết hợp có hiểu biết và tính toán tạo ra hiệu quả lớn hơn trong việc làm giảm sự tăng trưởng của E. coli và Salmonella (Riemen- sperger và cộng sự, 2012) (Hình 1).

     

    5. Lấy lại được năng suất

     

    Các chất kích thích tăng trưởng kháng sinh (AGPs) trong lịch sử đã được sử dụng để tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả thức ăn. Tại các thị trường như EU, Mỹ, kháng sinh được dùng làm chất kích thích (AGP) đã bị cấm. Cơ chế hoạt động của AGPs không được hiểu rõ hoàn toàn. Tuy nhiên, giả thuyết chiếm ưu thế nhất là sự điều biến khu hệ vi sinh vật và tác dụng chống viêm kích. Tác dụng của của sự bổ sung khẩu phần các hợp chất phytogenic kết hợp với axit hữu cơ trên năng suất của heo đã được đánh giá và so sánh với một chương trình AGP (Mendoza và cộng sự, 2017). Heo con giai đoạn dưỡng/nursery được cho ăn phytogenics và acid hữu cơ đã cho hiệu quả thức ăn tương tự so với heo được cho ăn AGP (Hình 2). Các hợp chất phytogenic cũng đã chứng minh là cải thiện sự tăng trưởng của heo tăng trưởng-vỗ béo. Soto và cộng sự, 2016 đã tường trình rằng heo tăng trưởng được cho ăn hỗn hợp các thành phần phytogenic đã cho trọng lượng xuất chuồng tương tự so với heo được cho ăn ractopamine (Hình 3).

    Kết luận

     

    Sở thích của người tiêu dùng đang khuyến khích chúng ta áp dụng sự thực hành phòng ngừa tại các trang trại và tìm kiếm chất thay thế bền vững cho kháng sinh. Trong một chương trình ABF, thực hành vệ sinh và an toàn sinh học nghiêm ngặt phải được thực hiện. Chất lượng nước, tuổi cai sữa, quản lý nguy cơ do độc tố nấm mốc, phòng ngừa và năng suất đều là những yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe của heo và lợi nhuận. Các chất nâng cao tăng trưởng mới là những chất thay thế bền vững để gia tăng hiệu quả thức ăn và tăng trưởng.

     

    Quay lại quy trình thông thường với một tinh thần cởi mở và kiến thức khoa học có thể rất hiệu quả để chuyển tiếp thành công sang chăn nuôi không kháng sinh

     

    Tiến sĩ S. Maria Mendoza

    Science & Solution Số ABF. Heo – BIOMIN

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.