Axit Formic: Dùng sao cho đúng và các lựa chọn thay thế - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 74.000 - 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 70.000 - 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 74.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 60.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 67.000 - 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi An Giang 67.000 đ/kg
    •  
  • Axit Formic: Dùng sao cho đúng và các lựa chọn thay thế

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Trong số các loại acid hữu cơ được sử dụng trong TĂCN đến gần đây thì phổ biến nhất là acid formic vì có một số thuận lợi hơn so với việc dùng các acid hữu cơ khác. Tuy vậy, ở một vài khía cạnh khác việc mua bán acid formic rộng rãi, khó kiểm soát có thể gây ra một số hệ lụy cho công việc quản lý trật tự trị an của xã hội. Do vậy, câu hỏi đặt ra là liệu có thể sản xuất TĂCN không cần dùng đến acid formic mà vẫn đảm bảo sức khoẻ vật nuôi để qua đó đạt được kết quả chăn nuôi tốt như mong muốn hay không?

     

    PGS. TS. Dương Duy Đồng

    Giới thiệu

     

    Từ năm 1996 khi các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu triển khai lộ trình ngưng sử dụng kháng sinh làm chất kích thích tăng trưởng trong TĂCN thì các loại acid hữu cơ là một trong những phương tiện đầu tiên được giới thiệu, xem như là phương án thay thế kháng sinh trong TĂCN. Loại acid hữu cơ đầu tiên được giới thiệu là acid lactic, rồi dần dần đến acid formic, acid butyric, acid benzoic và nhiều loại acid hữu cơ khác nữa; kèm theo là các phương tiện sinh học khác như kết hợp acid hữu cơ với các chất chiết xuất từ thực vật (phytogenics), với probiotics, v.v…

     

    Theo thời gian, trong số các loại acid hữu cơ được sử dụng trong TĂCN đến gần đây thì phổ biến nhất là acid formic vì có một số thuận lợi hơn so với việc dùng các acid hữu cơ khác. Tuy vậy, ở một vài khía cạnh khác việc mua bán acid formic rộng rãi, khó kiểm soát có thể gây ra một số hệ lụy cho công việc quản lý trật tự trị an của xã hội. Do vậy, câu hỏi đặt ra là liệu có thể sản xuất TĂCN không cần dùng đến acid formic mà vẫn đảm bảo sức khoẻ vật nuôi để qua đó đạt được kết quả chăn nuôi tốt như mong muốn hay không? Và nếu được thì phần chi phí bỏ ra cho các phương án thay thế có làm tăng giá thành TĂCN lên quá mức chấp nhận được từ phía người chăn nuôi hay không?

     

    Mục đích sử dụng acid formic trong TĂCN

     

    Nói chung, các loại acid hữu cơ khi dùng trong TĂCN đều nhằm vào một vài trong số các mục đích sau:

     

    (1) Giúp giảm pH đường ruột để qua đó kiểm soát các vi khuẩn có hại, và phần nào đưa cân bằng vi sinh vật đường ruột nghiêng về hướng có lợi cho vật nuôi.

     

    (2) Tăng khả năng tiêu hóa dưỡng chất trong thức ăn thông qua việc giảm thấp giá trị đệm (buffer value) của thức ăn và tránh cho dạ dày trong cơ thể vật nuôi không phải làm việc quá nhiều để tiết ra một lượng lớn acid chlorhydric (HCl) và từ đó giảm nguy cơ tiêu chảy nhất là với thức ăn cho heo con sau cai sữa.

     

    (3) Một số loại acid hữu cơ khi sử dụng với liều lượng phù hợp sẽ làm thức ăn cho vị chua nhẹ, kích thích độ ngon miệng của heo khi ăn vào.

     

    Tuy nhiên, cũng có một vài hạn chế khi sử dụng acid hữu cơ. Có acid hữu cơ như acid butyric có mùi hăng, thối; acid formic có mùi hăng nồng, nếu dùng nhiều trong thức ăn có thể gây ra mùi khó ngửi, làm giảm độ ngon miệng của heo và cũng gây khó chịu, có thể gây kích ứng da cho công nhân sản xuất thức ăn có tiếp xúc nhiều với các sản phẩm acid này. Các acid như citric có vị chua mạnh cũng có thể làm giảm độ ngon miệng của vật nuôi, nhất là ở heo con.

     

    Acid formic là một hợp chất hóa học có khối lượng phân tử khá thấp, HCOOH = 46, khi hòa tan trong dung dịch sẽ phân ly nhanh để giải phóng nhiều ion H+ (tính theo tỷ lệ của khối lượng phân tử) nên dễ dàng đạt được các mục đích (1) và (2) nêu trên so với các loại acid hữu cơ khác khi sử dụng cùng một liều lượng như nhau trong TĂCN. Ngược lại, khi dùng acid formic với liều lượng cao dễ gặp vấn đề với mục đích (3). Mặt khác, acid formic và kể cả muối formate dễ hút ẩm nên gây khó khăn trong việc bảo quản tồn trữ.

     

    TĂCN có nhất thiết phải dùng acid formic và/hoặc các loại acid hữu cơ hay không?

     

    Câu trả lời sẽ là có và không, tùy theo sản phẩm thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sẽđược dùng cho loài vật nuôi nào, trong giai đoạn đời sống nào của loài đó.

     

    Gà, vịt, cút hay nói chung là các loài cầm (chim) thường có thân nhiệt khá cao, trên 410 C nên đủ sức hạn chế sự phát triển gây độc của các loài vi khuẩn gây hại thông thường như E. coli nên ít cần đến các acid hữu cơ theo mục đích giảm pH đường ruột và kiểm soát cân bằng vi sinh vật. Với gia cầm non hoặc khi đẻ trứng, cơ thể chịu tác động của nhiều stress và khi muốn kiểm soát vi sinh vật trong manh tràng thì người ta hay dùng acid butyric vì có hằng số phân ly pKa phù hợp ở manh tràng hơn là với acid formic. Để giảm thiểu mùi khó chịu gây ra do các acid butyric hoặc muối butyrate, hiện tại trên thị trường đã có các sản phẩm tri-butyrin (ba phân tử acid butyric gắn lại thành một) vừa tăng được tính acid mà vừa mất gần như hoàn toàn mùi khó chịu của phân tử acid butyric.

     

    Heo con, nhất là giai đoạn sau cai sữa thường là đối tượng được dùng nhiều acid formic trong thức ăn nhất so với các loại acid hữu cơ khác vì dễ giúp giảm nhanh pH đường ruột, và giúp giảm giá trị đệm của thức ăn để góp phần giảm nguy cơ tiêu chảy ở heo con sau cai sữa. Với các heo choai, heo thịt lớn và heo nái thì cơ thể đã phát triển đầy đủ, ổn định nên trừ khi môi trường nuôi có nguy cơ xuất hiện bệnh dịch còn thông thường các đơn vị sản xuất TĂCN dùng ít hoặc không dùng acid formic và cả các loại acid hữu cơ khác để giảm giá thành thức ăn.

     

    Bò, dê vốn nhờ vào hệ vi sinh vật đa dạng trong dạ cỏ giúp tiêu hóa các loại thức ăn nhiều xơ nên hoàn toàn không có nhu cầu sử dụng acid hữu cơ, bao gồm cả acid formic, và nhiều loại thức ăn bổ sung khác trong thức ăn hỗn hợp.

     

    Các giải pháp cho trường hợp không có acid formic để dùng trong TĂCN

     

    Bảng 1. So sánh tính acid của một số loại acid hữu cơ có thể dùng TĂCN, lấy acid formic làm chuẩn

     

    Giả định trong trường hợp không còn có nguồn acid formic để sử dụng trong TĂCN, với heo con sau cai sữa hoặc một số giai đoạn vật nuôi đã nêu trên nhưng vẫn muốn đạt được 3 mục đích đã nêu trên, có thể chọn lựa một vài hoặc tổng hợp tất cả các giải pháp sau đây:

     

    1. Tìm nguồn chứa acid hữu cơ co tính acid tương đương hoặc mạnh hơn acid formic để thay thế hoặc dùng acid có tính acid yếu với liều dùng cao hơn

     

    Với mục đích giảm pH trong đường ruột người dùng có thể tham khảo bảng 1 dưới đây. Trong đó pKa là hằng số phân ly của acid, giá trị pKa càng nhỏ có thể hiểu là tính acid càng mạnh

     

    1. Tính toán công thức thức ăn sao cho giá trị đệm càng thấp càng tốt

     

    Mỗi loại nguyên liệu thức ăn, kể cả một số thức ăn bổ sung, có một giá trị đệm nhất định. Các nguyên liệu chứa hàm lượng protein cao và/hoặc chứa calci cao sẽ có giá trị đệm cao nên người lập công thức thức ăn cần nắm rõ các giá trị này để đưa vào cơ sở dữ liệu lập công thức thức ăn bên cạnh các dưỡng chất thông thường đã xác định. (Bạn đọc cần biết thêm về các khái niệm “giá trị đệm” và “năng lực đệm” áp dụng vào thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi có thể liên lạc với tác giả qua e-mail).

     

    1. Với mục đích kiểm soát vi sinh vật có hại trong đường ruột vật nuôi

     

    Không nhất thiết chỉ có các acid hữu cơ kể cả acid formic làm được việc này, mà có thể sử dụng các phương tiện như probiotics, các chất chiết xuất từ thực vật, kể cả một số phương tiện trực tiếp với mục đích này hơn như các sản phẩm chứa peptides kháng khuẩn; sản phẩm chứa bacteriophage (thực khuẩn thể); hoặc kết hợp các phương tiện vừa nêu với một vài loại acic hữu cơ như sản phẩm chứa tri-butyrin là vẫn sẽ đảm bảo đạt được mục đích này.

     

    Về phía người chăn nuôi cũng nên chủ động hơn trong việc duy trì sức khoẻ đường ruột và sức khoẻ tổng quát cho vật nuôi, chứ không chỉ chờ vào các thay đổi từ đơn vị sản xuất thức ăn chăn nuôi.

     

    Ngoài các phương pháp vệ sinh chuồng trại thông thường, hiện trên thị trường đã bắt đầu có bán các loại sản phẩm nước chứa acid hypochlorous (HOCl). Tùy theo hàm lượng HOCl trong nước thành phẩm cao hay thấp, có thể dùng xịt sát trùng dụng cụ chăn nuôi, xịt khử trùng toàn thân người ra vào trại nuôi và có thể dùng cho uống trực tiếp ở gà, vịt hoặc heo con để đảm bảo hạn chế các vi khuẩn có hại phát triển trong đường tiêu hóa vật nuôi, đem lại hiệu quả về tăng cường sức khoẻ đường ruột vật nuôi giống như khi trong TĂCN có sử dụng các biện pháp kể trên, bao gồm cả việc sử dụng acid hữu cơ khác hay acid formic.

     

    Mặt khác, HOCl là hợp chất dễ phân ly và sau đó bay hơi nên khi sử dụng nước chứa HOCl cho vật nuôi uống thường xuyên cũng không sợ gây ra hiện tượng vi khuẩn lờn thuốc hoặc tồn dư hóa chất trong thịt, sản phẩm chăn nuôi như trường hợp sử dụng kháng sinh (Phương pháp sản xuất và sử dụng nước chứa HOCl mặc dù đã được cơ quan FDA của Hoa Kỳ và EU cấp phép lưu hành nhưng là một tiến bộ khoa học chỉ mới được giới thiệu và áp dụng trong vài năm gần đây tại Hoa Kỳ, các nước châu Âu và còn khá mới mẻ ở thị trường Việt Nam nên tác giả sẽ có một bài viết chi tiết về đề tài này trong tạp chí số kế tiếp để mô tả rõ hơn các ứng dụng hữu ích của loại nước chứa HOCl này trong chăn nuôi, thủy sản, thú cưng và kể cả cho cây trồng).

     

    Kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi

     

    Việc nâng cao sức khoẻ đường ruột và sức khoẻ tổng quát của vật nuôi luôn cần đến một giải pháp tổng hợp từ nhiều giải pháp khác nhau chứ không thể chỉ dựa trên một loại sản phẩm duy nhất nào cả. Như vậy, khi bị thiếu hụt một giải pháp nào đó thì hoàn toàn có thể vận dụng linh hoạt các giải pháp khác để thay thế, bổ sung cho phần thiếu hụt trên cơ sở hiểu rõ mục đích sử dụng của mỗi loại sản phẩm, giải pháp để qua đó vẫn sẽ đạt được mục đích chung là nâng cao sức khoẻ vật nuôi, tiến đến nâng cao năng suất chăn nuôi theo sát với tiềm năng con giống có thể đạt mà vẫn tiết kiệm chi phí chăn nuôi ở mức tối ưu nhất, có lợi cho người chăn nuôi.

     

    PGS. TS. Dương Duy Đồng

    (dong.duongduy@hotmail.com)

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.