Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 02/2026 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 02/2026

    Giá lợn hơi trên cả nước tăng trong những ngày đầu tháng 02/2026, nhưng đến cuối tháng lại có xu hướng giảm về mức khoảng 72.000-79.000 đồng/kg.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT THẾ GIỚI

     

    Chỉ số Giá Thịt của FAO đạt trung bình 123,8 điểm trong tháng 01/2026, giảm 0,5 điểm (0,4%) so với tháng 12/2025, nhưng vẫn cao hơn 7,1 điểm (6,1%) so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu phản ánh giá thịt lợn trên thị trường quốc tế đi xuống, trong khi giá thịt bò và thịt cừu nhìn chung ổn định. Trái lại, giá thịt gia cầm thế giới tăng.

     

    Giá thịt lợn giảm phần lớn do giá chào bán tại Liên minh châu Âu suy yếu, trong bối cảnh nhu cầu quốc tế trầm lắng và nguồn cung dồi dào, bao gồm cả việc giải phóng lượng tồn đọng liên quan đến việc đóng cửa tạm thời các lò mổ vào dịp nghỉ lễ cuối năm.

     

    Mặc dù nguồn cung tương đối khan hiếm, giá thịt cừu thế giới vẫn cơ bản ổn định, do nhu cầu theo mùa giảm sau giai đoạn mua vào mạnh vào cuối năm. Giá thịt bò nhìn chung ổn định, trong bối cảnh Brasil điều chỉnh hướng xuất khẩu sang các thị trường khác sau khi hạn ngạch miễn thuế vào Hoa Kỳ nhanh chóng được sử dụng hết và mức thuế ngoài hạn ngạch 26,4% được áp dụng. Lượng hàng được chuyển hướng nhiều hơn sang Trung Quốc, nơi các nhà nhập khẩu đẩy nhanh việc mua vào để bảo đảm nguồn cung trước khi hạn ngạch tự vệ thịt bò được công bố có hiệu lực, qua đó bù đắp áp lực giảm giá tiềm ẩn đối với thị trường Brasil. Trong khi đó, giá thịt gia cầm tăng, chủ yếu do giá tại Brasil đi lên nhờ nhu cầu quốc tế mạnh.

     

    USDA dự báo sản lượng thịt lợn toàn cầu năm 2026 sẽ gần như ổn định, trong khi xuất khẩu được dự kiến giảm nhẹ.

     

    Dự báo toàn cầu:

     

    Sản lượng thịt lợn toàn cầu năm 2026 được dự báo đạt 117,2 triệu tấn, tăng nhẹ 0,1% so với năm 2025.

     

    Xuất khẩu toàn cầu dự kiến giảm 0,8% so với năm 2025, từ 10,4 triệu tấn xuống 10,3 triệu tấn.

     

    Nhập khẩu được dự báo đạt 9,4 triệu tấn vào năm 2026, tăng 1,8% so với năm 2025.

     

    Tiêu thụ dự kiến tăng 0,3% trong năm 2026, từ 115,9 triệu tấn lên 116,3 triệu tấn.

     

    Dự báo tại các quốc gia chủ chốt

     

    + Trung Quốc được dự báo đạt sản lượng 57,2 triệu tấn trong năm 2026, duy trì mức tương đương năm 2025. Tuy nhiên, khối lượng nhập khẩu ước tính tăng 1,4%, đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

     

    + Sản lượng của Liên minh châu Âu dự kiến giảm 1,2% trong năm 2026, còn 21,5 triệu tấn. Với tổng xuất khẩu ước đạt 2,8 triệu tấn, khối lượng xuất khẩu được dự báo giảm 7,4%. Nhập khẩu dự kiến đạt 105.000 tấn.

     

    + Năm 2026, Hoa Kỳ được dự báo duy trì sản lượng tương đương năm 2025 (12,5 triệu tấn), trong khi xuất khẩu dự kiến tăng 0,7%, đạt 3,2 triệu tấn.

     

    + Việt Nam được dự báo đạt sản lượng 4,0 triệu tấn trong năm 2026, tăng 3,2% so với năm trước. Ngược lại, nhập khẩu dự kiến giảm 8%, còn 115.000 tấn.

     

    + Nhật Bản được dự báo tiếp tục là quốc gia nhập khẩu thịt lợn lớn thứ hai thế giới trong năm 2026, với 1,48 triệu tấn, tăng 1,4% so với ước tính năm 2025.

     

    + Brasil được dự báo tăng sản lượng 1,3% trong năm 2026, đạt 4,7 triệu tấn. Xuất khẩu cũng dự kiến đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3,8% so với năm 2025.

     

    + Sản lượng của México được dự báo tăng 3,3%, đạt khoảng 1,4 triệu tấn vào năm 2026. Quốc gia này tiếp tục là nhà nhập khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới và khu vực Mỹ Latinh, với 1,62 triệu tấn, tăng 0,9% so với năm 2025.

     

    + Tại Canada, sản lượng được dự báo tăng 0,7% trong năm 2026, đạt 2,2 triệu tấn; Xuất khẩu dự kiến tăng 1,4%, lên khoảng 1,5 triệu tấn.

     

    + Sản lượng lợn của Thái Lan ước tính đạt 23,584 triệu con trong năm 2025, tăng 0,54% so với mức 23,457 triệu con của năm 2024. Mức tăng này nhờ sự phục hồi sau ASF, khi các trang trại đã điều chỉnh quy trình và triển khai hệ thống an toàn sinh học chặt chẽ hơn, qua đó nâng cao hiệu quả sinh sản của lợn nái và tăng số lượng lợn thịt xuất chuồng đưa ra thị trường. Năm 2026, sản lượng lợn được dự báo tăng nhẹ lên 23,642 triệu con. Năm 2026, nhập khẩu sản phẩm thịt lợn và các bộ phận ăn được khác của lợn dự kiến tương đương mức của năm 2025.

     

    + Xuất khẩu thịt lợn năm 2025 của Brasil ước tính đạt mức tăng trưởng trên 11%. Các khảo sát của Brazilian Animal Protein Association (ABPA) cho thấy, lượng thịt lợn xuất khẩu của Brasil đạt 1,51 triệu tấn trong năm 2025 (mức kỷ lục của ngành), tăng 11,6% so với năm 2024 (1,352 triệu tấn). Với kết quả này, Brasil được kỳ vọng sẽ vượt Canada để trở thành nhà xuất khẩu thịt lợn lớn thứ ba thế giới. Trong năm 2025, trị giá xuất khẩu thịt lợn của Brasil ước tính đạt 3,619 tỷ USD, tăng 19,3% so với năm 2024 (3,033 tỷ USD). Philippines là thị trường xuất khẩu thịt lợn lớn nhất của Brasil trong năm 2025, với 392.900 tấn, tăng 54,5% so với năm 2024; Tiếp theo là Trung Quốc với 159.200 tấn (giảm 33,9%), Chile với 118.600 tấn (tăng 4,9%), Nhật Bản với 114.400 tấn (tăng 22,4%) và thị trường Hồng Kông với 110.900 tấn (tăng 3,7%).

     

    THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

     

    Giá lợn hơi trên cả nước tăng trong những ngày đầu tháng 02/2026, rồi giảm vào cuối tháng, dao động trong khoảng 72.000-79.000 đồng/kg. Cụ thể:

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 72.000-79.000 đồng/kg những ngày đầu tháng, tăng từ 3.000-10.000 đồng/kg, sau lại giảm từ 2.000-8.000 đồng/kg so với những ngày cuối tháng 01/2026.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 72.000-78.000 đồng/kg. Trong những ngày đầu tháng 02/2026, giá lợn hơi tại khu vực này tăng từ 1.000-10.000 đồng/kg, sau giảm từ 1.000-6.000 đồng/kg.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 72.000-78.000 đồng/kg. Những ngày đầu tháng giá lợn hơi tăng từ 1.000-13.000 đồng/kg, sau giảm từ 1.000-4.000 đồng/kg.

     

    Diễn biến giá lợn hơi trong nước từ đầu tháng 01/2025 đến nay

    (Đơn vị tính: nghìn đồng)

     

    TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

     

    Tình hình xuất khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, tháng 01/2026, Việt Nam xuất khẩu 1,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 11,82 triệu USD, tăng 44,5% về lượng và tăng 38,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trong tháng 01/2026, thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu tới 16 thị trường. Trong đó Hồng Kông vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 35,18% về lượng và chiếm 46,05% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt, với lượng đạt 630,8 tấn, trị giá 5,44 triệu USD, giảm 26,8% về lượng và giảm 12,5% về trị giá so với tháng 01/2025. Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông. Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường đạt mức tăng trưởng tốt trong tháng 01/2026 so với cùng kỳ năm 2025 như: Trung Quốc, Pháp, Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Malaysia…

     

    Cơ cấu thị trường xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam

     (Tỷ trọng % tính theo trị giá)

     

     

    Tháng 01/2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu gồm các chủng loại: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 38,53% về lượng và chiếm 50,53% về trị giá; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 40,09% về lượng và chiếm 32,23% về trị giá; Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 21,04% về lượng và chiếm 15,67% về trị giá; Các chủng loại khác chiếm 0,33% về lượng và chiếm 1,58% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong tháng 01/2026.

     

    Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, với lượng đạt 690,9 tấn, trị giá 5,97 triệu USD, giảm 14,7% về lượng và giảm 2,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Kông giảm 20,7% về lượng và giảm 10,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Tình hình nhập khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, tháng 01/2026, Việt Nam nhập khẩu 83,1 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 184,95 triệu USD, tăng 11,7% về lượng và tăng 18% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Tháng 01/2026, Ấn Độ vẫn là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 22,11% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu, với lượng đạt 18,3 nghìn tấn, trị giá 72,57 triệu USD, tăng 18,1% về lượng và tăng 38,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng như: Úc, Canada, Đức, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý…, trong đó tăng mạnh nhất là nhập khẩu từ thị trường Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Hoa Kỳ, Brasil, Nga, Hà Lan, Iran, thị trường Hồng Kông…

     

    Cơ cấu thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt cho Việt Nam

    (Tỷ trọng % tính theo lượng)

     

    Trong tháng 01/2026, các chủng loại thịt Việt Nam nhập khẩu chủ yếu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 39,1% về lượng và 18,13% về trị giá; Thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 20,89% về lượng và 37,65% về trị giá; Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 10,52% về lượng và 11,17% về trị giá; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 20,4% về lượng và 11,98% về trị giá; Thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 6,64% về lượng và 19,03% về trị giá; Các mặt hàng khác chiếm 2,45% về lượng và 2,03% về trị giá trong tổng nhập khẩu chủng loại thịt tháng 01/2026.

     

    Tháng 01/2026, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam đạt 8,7 nghìn tấn, với trị giá 20,66 triệu USD giảm 32,7% về lượng và giảm 40% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong tháng 01/2026 ở mức 2.355 USD/tấn, giảm 11,06% so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trong tháng 01/2026, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 18 thị trường, trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ các thị trường: Nga chiếm 32,88% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu; Brasil chiếm 28,04%; Đức chiếm 12,57%, Tây Ban Nha chiếm 9,03%; Hà Lan chiếm 2,84%…

     

    Cơ cấu thị trường cung cấp thịt lợn cho Việt Nam

    (Tỷ trọng % tính theo lượng)

     

     

    Nguồn: Bản tin thị trường nông-lâm-thủy sản, Bộ Công thương

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.