Bản tin thị trường thịt trong nước và thế giới tháng 01 năm 2026 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 74.000 - 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 70.000 - 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 74.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 60.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 67.000 - 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi An Giang 67.000 đ/kg
    •  
  • Bản tin thị trường thịt trong nước và thế giới tháng 01 năm 2026

    Giá lợn hơi trong nước tháng 01/2026 tiếp tục tăng so với tháng 12/2025, dao động trong khoảng 65.000 – 81.000 đồng/kg. Năm 2025, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam giảm, nhập khẩu tăng so với năm 2024.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT THẾ GIỚI

     

    Chỉ số giá thịt của FAO trong tháng 12/2026 đạt trung bình 123,6 điểm, giảm 1,7 điểm (tương đương giảm 1,3%) so với mức đã điều chỉnh của tháng 011/2026, nhưng vẫn cao hơn 4,1 điểm (tương đương 3,4%) so với cùng kỳ năm 2025. Giá giảm ở tất cả các nhóm thịt, trong đó thịt bò và thịt gia cầm giảm mạnh nhất.

     

    Giá thịt bò thế giới giảm chủ yếu do giá chào bán tại Úc suy yếu, nơi điều kiện khô hạn theo mùa khiến các trang trại giảm đàn, làm nguồn cung bò giết mổ tăng và gây áp lực giảm giá. Giá thịt gia cầm trên thị trường quốc tế cũng giảm, do nguồn cung xuất khẩu dồi dào vượt nhu cầu nhập khẩu toàn cầu.

     

    Giá thịt cừu giảm nhẹ khi nguồn cung theo mùa gia tăng đưa ra thị trường, dù nhu cầu nhập khẩu toàn cầu vẫn duy trì ở mức tốt.

     

    Giá thịt lợn cũng giảm nhẹ, chủ yếu do giá chào bán yếu hơn tại Liên minh châu Âu (EU), trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu trầm lắng.

     

    Tính chung năm 2025, chỉ số giá thịt của FAO đạt trung bình 123,2 điểm, tăng 6,0 điểm (tương đương tăng 5,1%) so với năm 2024. Mức tăng này được hỗ trợ bởi nhu cầu nhập khẩu toàn cầu duy trì ở mức cao, cùng với bất ổn gia tăng trên thị trường liên quan đến các đợt bùng phát dịch bệnh trên động vật và căng thẳng địa chính trị. Giá thịt bò và thịt cừu thế giới tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, nhờ nhu cầu nhập khẩu vững trong khi nguồn cung xuất khẩu hạn chế. Ngược lại, giá thịt lợn giảm do nhu cầu nhập khẩu toàn cầu suy yếu, trong khi giá thịt gia cầm giảm nhẹ vì nguồn cung dồi dào.

     

    Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, năm 2025 Trung Quốc giảm nhập khẩu thịt và một số sản phẩm thịt, cụ thể:

     

    • Thịt trâu, bò: Trong năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 2,8 triệu tấn thịt trâu, bò (mã HS 0201; 0202), trị giá 14,79 tỷ USD, giảm 2,5% về lượng, nhưng tăng 8% về trị giá so với năm 2024, trong đó chủ yếu nhập khẩu từ các thị trường Brasil, Úc, Argentina, Uruguay, New Zealand, Hoa Kỳ, Cộng hòa Bolivia, Cộng hòa Colombia, Nga… Trong đó, Trung Quốc nhập khẩu thịt trâu bò từ thị trường Brasil, Úc, Colombia tăng cả về lượng và trị giá, trong khi nhập khẩu từ các thị trường khác giảm so với năm 2024.

     

    • Thịt lợn: Năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 963,4 nghìn tấn thịt lợn (mã HS 0203), trị giá 1,92 tỷ USD, giảm 8,2% về lượng và giảm 8% về trị giá so với năm 2024, trong đó chủ yếu nhập khẩu từ Tây Ban Nha, Brasil, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Chile, Pháp, Hoa Kỳ… Trong đó, Trung Quốc tăng nhập khẩu thịt lợn từ Đan Mạch, Anh, Chile, nhưng giảm nhập khẩu từ Tây Ban Nha, Brasil, Hà Lan, Pháp, Hoa Kỳ.

     

    • Thịt gia cầm: Năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 608,7 nghìn tấn thịt và phụ phẩm của gia cầm (mã HS 0207), trị giá 1,84 tỷ USD, giảm 35,4% về lượng và giảm 37,4% về trị giá so với năm 2024, trong đó giảm mạnh nhập khẩu từ Brasil (thị trường cung cấp lớn nhất), giảm 47,7% về lượng và giảm 49,3% về trị giá so với năm 2024.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT TRONG NƯỚC

     

    Trong tháng 01/2026, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục xu hướng tăng so với tháng 12/2025, dao động trong khoảng 65.000 – 81.000 đồng/kg. Cụ thể:

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 69.000 – 81.000 đồng/kg, tăng 7.000 – 13.000 đồng/kg so với cuối tháng 12/2025.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 68.000 – 80.000 đồng/kg, tăng 6.000 – 13.000 đồng/kg so với cuối tháng 12/2025.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 65.000 – 78.000 đồng/kg, tăng 4.000 – 13.000 đồng/kg so tháng 12/2025.

     

     

    Diễn biến giá lợn hơi trong nước từ đầu tháng 10/2024 đến nay (Đơn vị tính: nghìn đồng)

    Nguồn: Trung tâm Công nghiệp và thương mại tổng hợp

     

    TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

     

    Tình hình xuất khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 22,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 116,49 triệu USD, giảm 8% về lượng và giảm 0,5% về trị giá so với năm 2024.

     

    Trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang 36 thị trường. Trong đó, Hồng Kông vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 43,27% về lượng và chiếm 59,44% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, với lượng đạt 9,6 nghìn tấn, trị giá 69,23 triệu USD, giảm 21,4% về lượng và giảm 0,7% về trị giá so với năm 2024. Sản phẩm thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông chủ yếu vẫn là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh.

     

    Trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang một số thị trường tăng trưởng trên 2 con số về lượng và trị giá so với năm 2024 như: Trung Quốc, Singapore, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Liban…

     

    Cơ cấu thị trường xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam (Tỷ trọng % tính theo trị giá)

    Nguồn: Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

     

    Năm 2025, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 37,24% về lượng và chiếm 56,42% về trị giá; Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 31,91% về lượng và chiếm 21,29% về trị giá; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 29,72 về lượng và chiếm 20,46% về trị giá; Các chủng loại khác chiếm 1,13% về lượng và chiếm 1,84% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong năm 2025.

     

    Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, đạt 8,3 nghìn tấn, trị giá 65,72 triệu USD, giảm 11,7% về lượng, nhưng tăng 12,1% về trị giá so với năm 2024. Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh xuất khẩu chủ yếu tới thị trường Hồng Kông, giảm 8,7% về lượng, nhưng tăng 14% về trị giá so với năm 2024.

     

    Tình hình nhập khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 978,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 2,004 tỷ USD, tăng 11,6% về lượng và tăng 12,2% về trị giá so với năm 2024.

     

    Năm 2025, Ấn Độ vẫn là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 19,29% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu của cả nước, đạt 188,7 nghìn tấn, trị giá 681,32 triệu USD, giảm 2,8% về lượng, nhưng tăng 5,6% về trị giá so với năm 2024.

     

    Tiếp theo Nga, Brasil, Hoa Kỳ, Úc, Canada là những thị trường cung cấp lớn. Trong đó, nhập khẩu từ Nga, Brasil, Canada tăng mạnh. Cụ thể, nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt của Việt Nam từ Nga trong năm 2025 tăng 59,1% về lượng và tăng 59,4% về trị giá so với năm 2024; Brasil tăng 42,7% về lượng và tăng 57,3% về trị giá so với năm 2024; Trong khi nhập khẩu từ Hoa Kỳ và Úc giảm.

     

    Ngoài ra, năm 2025 nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam từ các thị trường: Ba Lan, Hàn Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Hồng Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Pháp, New Zealand, Bỉ, Slovenia, Algérie, Trung Quốc… tăng mạnh so với năm 2024.

     

    Trong khi đó, nhập khẩu từ các thị trường như Argentina, Iran, Đan Mạch, Litva, Costa Rica, Rumani, Anh, Thuỵ Sỹ, Uruguay… giảm.

     

    Cơ cấu thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt cho Việt Nam (Tỷ trọng % tính theo lượng)

    Nguồn: Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

     

    Trong năm 2025, các chủng loại thịt Việt Nam nhập khẩu chủ yếu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 36,77% về lượng và chiếm 17,94% về trị giá; Thịt trâu tươi đông lạnh, chiếm 17,68% về lượng và chiếm 31,85% về trị giá; Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 18,75% về lượng và chiếm 20,88% về trị giá; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 18,86% về lượng và chiếm 12,67% về trị giá; Thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 4,04% về lượng và chiếm 13,95% về trị giá; Các mặt hàng khác chiếm 3,9% về lượng và chiếm 2,7% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt năm 2025.

     

    Năm 2025, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh của Việt Nam đạt 183,4 nghìn tấn, trị giá 418,54 triệu USD, tăng 18,75% về lượng và tăng 20,88% về trị giá so với năm 2024. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam năm 2025 ở mức 2.273 USD/ tấn, giảm 2,8% so với năm 2024. Trong đó, Nga là thị trường cung cấp thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 48,44% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước; Brasil chiếm 30,91%; Đức chiếm 4,03%, Canada chiếm 4%; Hà Lan chiếm 2,58%; các thị trường khác chiếm 10,04%.

     

    Nguồn: Bản tin thị trường Nông-Lâm- Thủy sản, Bộ Công thương

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.