Tiêu chảy ở lợn con theo mẹ là một trong những thách thức quan trọng trong ngành chăn nuôi lợn trang trại ở Việt Nam nói chung và khu vực Đông Nam Bộ nói riêng. Bệnh gây tổn thất đáng kể về kinh tế do tỷ lệ chết cao, giảm tăng trưởng và làm tăng chi phí điều trị. Trong đó, Escherichia coli (E. coli) và Clostridium perfringens (C. perfringens) là hai loại vi khuẩn phổ biến và nguy hiểm nhất, thường gây tiêu chảy cấp tính, đôi khi dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời trong giai đoạn lợn con theo mẹ.
Từ tổng số 131 mẫu phân của lợn con, lợn mẹ bị tiêu chảy được thu thập tại ba tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai (cũ), kết quả phân lập cho thấy E. coli được phát hiện ở 96,66%, vi khuẩn C. perfringens được phát hiện ở 75,61%. Vi khuẩn E. coli phân lập được có tỷ lệ đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin, florfenicol, tetracycline và streptomycin. Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như: colistin, gentamicin, apramycin và norfloxacin. Vi khuẩn C. perfringens phân lập được đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin, lincomycin và penicillin. Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như: doxycycline, florfenicol, tetracycline và tylosin. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học trong việc chọn lựa kháng sinh thích hợp trong điều trị nhiễm khuẩn đường ruột ở lợn con theo mẹ.
Đặt vấn đề
Việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh không hợp lý trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng kháng thuốc. Tại nhiều trại chăn nuôi ở Đông Nam Bộ, kháng sinh vẫn được sử dụng phổ biến dưới dạng trộn vào thức ăn để phòng bệnh hoặc kích thích tăng trọng (Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Văn Chính, 2017). Chính điều này tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển cơ chế kháng thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ tồn lưu kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng (WHO, 2014).
Nhiều nghiên cứu trong nước đã ghi nhận tỷ lệ kháng kháng sinh cao ở E. coli phân lập từ lợn bệnh, đặc biệt đối với các nhóm như: tetracycline, ampicillin, sulfonamide và enrofloxacin (Trần Thị Hạnh và Nguyễn Văn Lộc, 2020; Lê Văn Dũng và cs, 2018). Tuy nhiên, thông tin về tình trạng kháng thuốc của C. perfringens ở khu vực Đông Nam Bộ hiện còn rất hạn chế, gây khó khăn trong việc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp (Nguyễn Thị Tuyết và Trịnh Văn Hoàng, 2019). Do đó, việc kiểm tra tính kháng kháng sinh của các chủng E. coli và C. perfringens phân lập từ lợn con tiêu chảy tại khu vực Đông Nam Bộ là yêu cầu cấp thiết và mang ý nghĩa thực tiễn cao.
Nghiên cứu đã tiến hành phân lập và đánh giá tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli và Clostridium perfringens từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy ở khu vực Đông Nam Bộ.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Từ tháng 6/2024 đến tháng 6/2025, 131 mẫu phân lợn con theo mẹ bị bệnh tiêu chảy có biểu hiện lâm sàng với bệnh viêm ruột hoại tử (41 mẫu) hay tiêu chảy nghi do E. coli (90 mẫu) được thu thập từ các trang trại chăn nuôi thuộc 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai.
Các mẫu sau khi thu thập được gửi về phòng xét nghiệm trong vòng 12 – 24 giờ và bảo quản trong điều kiện mát (4 – 8oC), đựng trong túi zip vô trùng trong các thùng chứa chuyên biệt. Sau đó, các mẫu sẽ được xử lý và tiến hành phân tích. Các phương pháp nuôi cấy, phân lập và giám định vi khuẩn E. coli và C. perfringens và xác sịnh kháng kháng sinh bằng phương pháp MIC được thực hiện lợn quy trình nuôi cấy thường quy của Trung tâm Nghiên cứu – Phân tích – Xét nghiệm – Tầm soát R.E.P (R.E.P Labs).
Kết quả nghiên cứu
Tỷ lệ phân lập vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm
Từ 131 mẫu phân thu thập được tại ba địa phương gồm Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai, tiến hành phân lập vi khuẩn E. coli hay C. perfringens kết quả phân lập thể hiện qua Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu phân lợn con bị tiêu chảy
Từ tổng số 131 mẫu trên, kết quả phân lập cho thấy E. coli được phát hiện ở 96,66% số mẫu (87/90), vi khuẩn C. perfringens được phân lập từ 75,61% số mẫu (31/41).
Kiểm định Chi-square cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ dương tính E. coli và C. perfringens giữa các địa phương (p > 0.05), cho thấy mức độ phổ biến đồng đều của vi khuẩn này.
Kết quả kiểm tra kháng kháng sinh
Tiến hành kiểm tra tính kháng kháng sinh từ những vi khuẩn E. coli và C. perfringens phân lập được kết quả thể hiện qua bảng 2.1 và 2.2.
Bảng 2.1. Kết quả xác định tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn E.coli
Qua bảng 2.1 cho thấy vi khuẩn E. coli phân lập được từ 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Bình Phước và Đồng Nai có tỷ lệ đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin, florfenicol, tetracycline và streptomycin lần lượt là 93,10%, 91,95%, 88,51% và 77,01%. Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như: colistin, gentamicin, apramycin và norfloxacin (tỷ lệ đề kháng dao động từ 9,20 – 44,83%).
Bảng 2.2. Kết quả xác định tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn C. perfringens
Qua bảng 2.2 cho thấy, vi khuẩn C. perfringens phân lập được từ 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai tỷ lệ đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin (90,32%), lincomycin (87,10%) và penicillin (83,00%). Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như doxycycline, florfenicol, tetracycline và tylosin (tỷ lệ đề kháng dao động từ 9,68 – 22,58%).
Kết luận
Từ tổng số 131 mẫu phân của lợn con lợn mẹ bị tiêu chảy được thu thập tại ba tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai, kết quả phân lập cho thấy E. coli được phát hiện ở 96,66%, vi khuẩn C. perfringens được phát hiện ở 75,61%.
Vi khuẩn E. coli có tỷ lệ đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin, florfenicol, tetracycline và streptomycin. Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như: colistin, gentamicin, apramycin và norfloxacin.
Vi khuẩn C. perfringens phân lập được đề kháng kháng sinh khá cao với các loại kháng sinh như: amoxicillin, lincomycin và penicillin. Trong khi đó, vi khuẩn này vẫn còn mẫn cảm với các loại kháng sinh như: doxycycline, florfenicol, tetracycline và tylosin.
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình đề kháng kháng sinh của 2 nhóm vi khuẩn E. coli và C. perfringens tại 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai, cũng như các loại kháng sinh có tính mẫn cảm cao để điều trị. Phương pháp kháng sinh đồ MIC là công cụ đắc lực hỗ trợ nhà chăn nuôi tìm loại kháng sinh nhạy và tính liều dùng kháng sinh chính xác, giúp sử dụng kháng sinh có kiểm soát, có trách nhiệm, đón đầu thời đại chăn nuôi mới – chăn nuôi bền vững. Ngoài ra, việc giám sát thường xuyên tình trạng kháng thuốc còn giúp cảnh báo sớm nguy cơ kháng đa thuốc, hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc định hướng chính sách sử dụng kháng sinh hợp lý trong chăn nuôi.
PGS.TS Nguyễn Xuân Hòa
Khoa Chăn nuôi Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Văn Chính, (2017). Bệnh tiêu chảy ở lợn con – nguyên nhân và biện pháp phòng trị. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 47(2), 35–40.
- World Health Organization (WHO), (2014). Antimicrobial Resistance: Global Report on Surveillance
- Trần Thị Hạnh và Nguyễn Văn Lộc, (2020). Đánh giá tính kháng kháng sinh của vi khuẩn coli phân lập từ lợn tại miền Nam. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 18(3), 66–72.
- Lê Văn Dũng, Phạm Thị Mai và Nguyễn Thị Hoa, (2018). Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tiêu hóa trên lợn tại tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Chăn nuôi Thú y, 210(10), 15–21.
- Nguyễn Thị Tuyết và Trịnh Văn Hoàng, (2019). Khảo sát vi khuẩn kỵ khí phân lập từ lợn con tiêu chảy. Hội nghị Khoa học Thú y toàn quốc, 120–125.
- clostridium perfringens li>
- vi khuẩn Escherichia Coli li>
- chăn nuôi li>
- kháng sinh li>
- Lợn li>
- heo li> ul>
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- An toàn sinh học chống ASF
- Đánh giá hiệu quả bảo hộ vaccine AVAC ASF LIVE trước biến chủng genotype I/II
- 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chủng ngừa vắc xin cho gà thịt
- Kiểm soát tiểu khí hậu và phúc lợi trong nuôi vịt hiện đại: Hướng dẫn thực tiễn và bằng chứng khoa học
- 4 nguồn chất xơ tự nhiên cho heo, gia cầm, bò sữa
- Tương lai của việc kiểm soát bệnh cầu trùng
- Quy trình phòng hội chứng EDS-76 trên chim cút đẻ trứng hiệu quả từ ứng dụng bộ sản phẩm SADOVA
- Ảnh hưởng của 25-Hydroxyvitamin D3 (Hao D) lên tăng trưởng và các thông số sinh hóa của xương ở heo con cai sữa được cho ăn khẩu phần thiếu canxi và phốt pho
Tin mới nhất
T4,07/01/2026
- Xuất khẩu thịt bò của Brazil năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục 18 tỷ USD
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 06/01/2026
- Bắc Ninh: Tăng cường kiểm dịch động vật dịp cuối năm
- Chăn nuôi gia cầm năm 2025 tăng trưởng khả quan, hướng tới phát triển bền vững
- Vốn tín dụng hỗ trợ phát triển chăn nuôi quy mô lớn
- Thái Nguyên: Chăn nuôi duy trì ổn định, chủ động kiểm soát dịch bệnh
- Hà Nội duy trì đường dây nóng tiếp nhận thông tin dịch bệnh động vật
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- Mỗi người Việt tiêu thụ gần 39kg thịt heo trong năm 2025
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà


























Bình luận mới nhất