Giữa bờ sông Công thơ mộng, Trại ngựa Bá Vân không chỉ là “thủ phủ” của các giống ngựa quý mà còn là Trung tâm nghiên cứu lớn, nơi kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguồn gen, ứng dụng y học và hỗ trợ lực lượng kỵ binh hiện đại. Đây cũng là điểm đến độc đáo, hé mở cho du khách một góc nhìn hoàn toàn khác về Thái Nguyên – miền đất của những cánh đồng chè và cả những đàn ngựa tung vó giữa thảo nguyên xanh.
Ngỡ ngàng “thảo nguyên” ngựa Bá Vân
Đến Trại ngựa Bá Vân (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền núi, thuộc Viện Chăn nuôi), bên bờ sông Công, những đàn ngựa tung vó trên bãi cỏ rộng khiến khung cảnh gợi nhớ thảo nguyên Mông Cổ. Với quy mô hàng trăm con, Bá Vân hiện là một trong những cơ sở nghiên cứu, bảo tồn, nhân giống ngựa lớn nhất cả nước.
Trại ngựa Bá Vân. Nguồn: dealtoday
Không chỉ nuôi các giống ngựa quý, trong đó nổi bật là ngựa đua và ngựa bạch, trại còn có khu chăn nuôi trâu, dê và một số đà điểu phục vụ tham quan. Thời điểm chúng tôi đến, cán bộ đang thực hiện quy trình hút máu ngựa để khai thác huyết thanh – công đoạn quan trọng trong nghiên cứu y học.
Con ngựa được cố định, ống kim lớn cắm vào tĩnh mạch tai; dòng máu chảy xuống chậu và sau thời gian đông lại, tách ra lớp huyết thanh trong suốt. Ông Tạ Văn Cần, Phó Giám đốc Trung tâm cho biết, đơn vị đang khai thác huyết thanh ngựa chửa theo đặt hàng của Viện Quân y 103 để sản xuất thuốc điều trị vô sinh. Ngựa được quản lý theo quy trình nghiêm ngặt; từ ngày thứ 40 của thai kỳ, cứ 15 ngày sẽ lấy một lần từ 3 – 9 lít máu tùy thể trạng, thu được 1 – 3 lít huyết thanh.
Chế phẩm kích dục tố từ huyết thanh ngựa chửa chứa FSH và LH đã được ứng dụng rộng rãi giúp kích thích động dục, gây rụng trứng, tăng khả năng sinh sản cho gia súc cái, đồng thời hỗ trợ điều trị vô sinh ở người. Nguồn huyết thanh chủ yếu đến từ đàn gần 50 ngựa cái tại Bá Vân.
Ngoài ra, ngựa tại Trung tâm còn được sử dụng để sản xuất kháng huyết thanh chống dại và uốn ván. Ngựa được tiêm virus dại hoặc trực khuẩn uốn ván để tạo kháng thể tự nhiên. “Kháng huyết thanh giúp cơ thể có miễn dịch ngay lập tức, rất quan trọng trong tình huống cấp cứu khi tiêm vaccine không kịp thời”, ông Cần nói.
Trung bình mỗi tháng, một con ngựa được khai thác lượng máu bằng 1,5% trọng lượng cơ thể; 1 lít máu có thể tạo được 75 ml kháng huyết thanh dại. Một đời ngựa cho khai thác liên tục khoảng 6 năm.
Hiện, trại đang lưu giữ hơn 100 con ngựa giống gốc quốc gia cùng hàng trăm ngựa thương phẩm. Tại khu chuồng giống, cán bộ giới thiệu một cá thể Cabardin thuần chủng cao 1,6 m, nặng khoảng 500 kg. Đây là giống ngựa chiến nổi tiếng, từng xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa, gắn với hình tượng ngựa Xích Thố của Quan Vũ.
Giống Cabardin được đưa vào Việt Nam từ năm 1964 với 8 cá thể đầu tiên nhập từ Liên Xô và bổ sung thêm 3 cá thể từ Hắc Long Giang (Trung Quốc) năm 2000. Từ nguồn gen quý này, Trung tâm đã thực hiện đề tài khoa học cấp Nhà nước nhằm lai tạo giữa ngựa Cabardin và ngựa bản địa, tạo nên dòng ngựa lai mang 25% máu Cabardin. Giống lai này có chiều cao 123 – 128 cm, nặng 238 – 246 kg, có sức kéo 900 – 1.000 kg, thồ được 70 – 80 kg, phù hợp điều kiện miền núi Việt Nam. Ngựa Cabardin thuần chủng khỏe nhưng khó linh hoạt; ngựa bản địa nhỏ nhưng khéo, vì vậy con lai đáp ứng tốt yêu cầu lao động sản xuất, đặc biệt với đồng bào vùng cao. Nhiều hộ người Mông còn dùng ngựa đực lai để phối với ngựa cái bản địa, tạo thế hệ thứ hai chỉ còn 12,5% máu Cabardin – thích hợp làm ngựa thồ nông sản.
Một dấu ấn đặc biệt tại Bá Vân là sự hiện diện của đoàn ngựa Mông Cổ do nước bạn tặng Việt Nam năm 2020. Bộ Công an đã chọn đồi Bá Vân làm “trụ sở chính” của Đoàn Cảnh sát Cơ động Kỵ binh. Tại đây, các chiến sĩ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ đội ngũ chuyên gia Trung tâm – đơn vị có hơn 60 năm kinh nghiệm nghiên cứu đại gia súc phục vụ y học và thú y. Hai bên ký kết thỏa thuận hợp tác để bảo đảm đàn ngựa Mông Cổ thích nghi với khí hậu Việt Nam. Đến nay, đàn ngựa đã phát triển khỏe mạnh, trở thành lực lượng cơ động đặc biệt, sẵn sàng tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh.
Gặp “kỳ nhân” buôn ngựa bạch
Rời sông Công, chúng tôi đến xóm Phẩm, xã Kha Sơn, tỉnh Thái Nguyên, gặp một “kỳ nhân” buôn ngựa bạch. Ông là Dương Văn Đoàn, người mà giới nấu cao xương ngựa ở miền Bắc đều biết tiếng. Cứ mỗi dịp đại lễ hay ngày hội lớn, người ta lại thấy ông xuất hiện ở những vị trí trung tâm, dắt theo vài con ngựa lông trắng phau, da sáng như ánh trăng non. Ở Thái Nguyên, cứ Festival trà là người ta lại mong trông cái dáng ông Đoàn, áo nâu bạc màu, đứng giữa phố xá mà mổ ngựa, nấu cao, khói nghi ngút như một nghi thức đã thành dấu ấn.
Ngựa bạch trong chuồng nhà ông, con nào cũng phởn phơ, lông trắng như tơ, dáng đứng kiêu, hơi thở ấm và mạnh. Ông chỉ là một trong hơn 500 hộ chăn nuôi ngựa bạch của xã Kha Sơn, nơi có đến hàng nghìn con ngựa bạch trải một màu trắng lan ra khắp triền làng, tạo nên âm hưởng rất riêng của vùng đất này.
“Tớ biết ơn con ngựa bạch, nhờ nó tớ mới có cơ nghiệp như hôm nay. Mới mua miếng đất để dựng miếu thờ và lăng ngựa bạch đấy”, ông cười kể. Ông Đoàn bảo, chăn nuôi ngựa bạch phải tinh từ gốc. Không phải cứ thấy lông trắng đã tưởng là bạch. Ngựa bạch chuẩn phải “bốn trắng”: da trắng, lông trắng, móng trắng, mõm trắng và “chín lỗ đồng thau” gồm: tai, mắt, mũi, miệng, hậu môn, bộ phận sinh dục đều ánh màu đồng thau. Mắt ngựa bạch đặc biệt lắm, ban ngày con ngươi méo oặt, nhưng sáng sớm hoặc tối đến lại tròn và đỏ như than hồng dưới ánh đèn. Giọng ông trầm mà vang, như tiếng ngựa dậm chân trên nền đất: “Chọn sai giống là hỏng hết. Lỡ ngựa cái động dục mà để ngựa nâu, ngựa xám nhảy vào thì coi như xôi hỏng bỏng không”.
Nghề với ông không chỉ là nuôi, mà là tổng hòa mọi “ngón”: bán giống, bán xương, thẩm định ngựa, nấu cao. Người mua bán ngựa bạch quanh vùng, cứ có giao dịch lớn là mời ông đến xem hộ. Chỉ liếc qua, ông biết ngay: bạch bản địa hay bạch Tây Tạng, bao nhiêu cân, mấy tháng tuổi. Mỗi lần thẩm định, ông lấy 500.000 đồng. Với một nồi cao, ông đề xuất mức tiền công 5 triệu đồng. Cái giá ai cũng vui vẻ trả bởi sự chắc chắn trong con mắt nghề của ông.
Mỗi tháng, ông bán bình quân 15 – 40 con ngựa bạch. Mỗi năm ông Đoàn bao tiêu 200 – 500 con ngựa bạch trong xã. Mỗi đợt Tết âm lịch, ông phải nấu gần 50 nồi cao theo đơn đặt hàng, với đội ngũ nhân công làm liên tục.
Điện thoại đặt hàng, ông chất năm con lên xe tải, chở đến tận nơi. Con nào không ưng thì lại đưa về trả. Ngựa bạch Việt Nam nặng 170 – 250 kg/con, giá 50 – 70 triệu đồng/con; ngựa bạch Tây Tạng nặng hơn, giá 80 – 100 triệu đồng/con. Có người chỉ mua xương, mỗi bộ 30 – 40 triệu đồng. Thịt thì xay giò, mỗi con bán được 20 triệu đồng. Phổi ngựa bạch là món thuốc hen quý, ông giữ riêng bán với giá 6 triệu một bộ.
Ông Đoàn cho hay, mỗi nồi cao nấu kỹ thì 7 ngày-đêm xương tan hết. Nấu nhanh thì hòa thêm xương nghiền, cao sẽ phân tầng, nhưng lắc lên vẫn mịn. “Mỗi bộ xương ngựa nấu được 2,5 – 4 kg cao nguyên chất, giá khoảng 1,5 triệu đồng/lạng. Nhưng khách muốn nhiều thì cho thêm phụ phẩm hoặc vị lá – đáp ứng được hết. Bởi thế thị trường cao ngựa lắm màu, nhiều loại: đắt, rẻ, chuẩn, giả đủ cả. Có nơi bán 600.000 – 800.000/lạng, nhưng chỉ là cao ngựa trắng kim hay cao trộn, uống vào… giời ơi”, ông Đoàn bộc bạch.
Ngồi trên bậc thềm nhà, nghe tiếng ngựa hí nhẹ phía chuồng, nhìn bàn tay ông Đoàn rám nắng nhưng rắn rỏi, mới hiểu: người kỳ lạ nhất lại là người sống với nghề bằng sự tinh tế và chân thật đến tận cùng. Trong mỗi bước chân ông, dường như có tiếng vó ngựa bạch đang phi, bền bỉ và thuần khiết, dẫn cả một vùng quê tiến về những mùa no đủ.
Vật nuôi “làm giàu” của làng Phẩm
Xóm Phẩm, xã Kha Sơn, tỉnh Thái Nguyên (trước sáp nhập thuộc xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) được ví như “thủ phủ” chăn nuôi ngựa bạch đất Bắc. Chỉ cần đặt chân xuống xóm Phẩm 2, nghe tiếng vó chạm đất lốc cốc vang trong những buổi sớm tinh sương, người ta sẽ hiểu: ở vùng này, ngựa đã trở thành âm thanh của cuộc sống, thành nhịp đập của kinh tế, thành niềm kiêu hãnh âm ấm trong mỗi mái nhà.
Xưa kia, người dân ở xã Dương Thành đã nuôi ngựa, nhưng chỉ để kéo cày, kéo xe, lôi gỗ. Ngựa cày Dương Thành vốn nổi tiếng khỏe, chỉ cần khoác ách là đi phăm phăm qua ruộng đồng. Nhưng phải đến khi người ta phát hiện giá trị đặc biệt của ngựa bạch, giống ngựa này mới được nhập về và gây nuôi. Từ cuối thập niên 70, dân làng đã lầm lũi “băng núi vượt đèo”, đi hàng trăm cây số lên Trùng Khánh (Cao Bằng) để chọn những con ngựa bạch khỏe mạnh mang về gây giống. Ban đầu chỉ vài hộ nuôi, nhưng tiếng lành đồn xa, ngựa nuôi cho lãi đều, thế là nhà này rủ nhà kia, xóm nhỏ dần hình thành một nghề truyền thống.
Đến năm 2008, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi đứng ra tổ chức các hộ lập “Hội Chăn nuôi ngựa bạch xóm Phẩm” với hơn trăm con ngựa. Năm 2013, Hội chuyển thành HTX Chăn nuôi ngựa bạch xóm Phẩm. Từ mấy chục con ban đầu, đến nay tổng đàn ngựa bạch toàn xã đã có hàng nghìn con. Bạch mã, từ chỗ bị coi là điềm xấu, giờ đã trở thành “mũi nhọn” kéo người dân thoát nghèo, vươn thành triệu phú, tỷ phú.
Trong cái xóm nhỏ 164 nóc nhà ấy, phần lớn người dân xem ngựa là nghiệp, là vốn liếng, là niềm tin. Ngựa giống 6 – 7 tháng đã bán được 20 – 30 triệu đồng; ngựa thịt 1,5 tuổi có giá 50 – 70 triệu. Nhiều cụ già vẫn theo nghề vì “ngựa nuôi dễ như trâu, bò”, chỉ cần cỏ, phụ phẩm, cám. Như ông Dương Quang Bách, 72 tuổi, nuôi 6 con ngựa thịt mà chỉ trong 8 tháng, 2 con đã lãi 30 triệu đồng.
Từ chuồng trại đến bếp lửa, kinh tế ngựa bạch còn mở ra một nghề khác: nghề nấu cao. Mỗi tháng, gia đình anh Hạnh nấu 18 – 20 kg cao ngựa bạch. Một mẻ cao, 24 tiếng không rời tay, lửa than đỏ hồng soi bóng cả đêm khuya. Xương ngựa được chặt, đánh, luộc, chải sạch từng thớ gân thịt, sau đó đưa vào ninh suốt 7 – 8 ngày đêm để lấy nước cốt. Ngày nay, có nồi áp suất lớn, thời gian rút xuống còn 48 giờ, nhưng sự chỉn chu thì vẫn vậy: kỹ, sạch, đúng quy trình.
Ông Dương Xuân Trường, Giám đốc HTX Chăn nuôi ngựa bạch xóm Phẩm, người được tôn vinh là 1 trong 9 nông dân Thái Nguyên xuất sắc tự hào kể về giấc mơ lớn hơn. Sản phẩm cao ngựa bạch Trường Nguyên do HTX sản xuất đã được tỉnh Thái Nguyên cấp chứng nhận OCOP 4 sao từ năm 2020, chứa đến 17 axit amin, hàm lượng canxi cao, được người tiêu dùng nhiều tỉnh thành tin dùng.
Từ cao ngựa bạch truyền thống, HTX đã phát triển thêm cao phổi, cao gân, viên nén cao ngựa; rồi cả phổi ngựa ngâm mật ong, xúc xích ngựa, giò ngựa… Mới đây, anh Trường còn đầu tư xây dựng gian hàng giới thiệu đặc sản từ ngựa và mở dịch vụ du lịch: thuê ngựa, trải nghiệm làm cao, thưởng thức món ngon từ ngựa bạch.
Xóm Phẩm 2 vì thế mà thay da đổi thịt, thu nhập bình quân đã đạt hơn 80 triệu đồng/người/năm; nhiều hộ thu 400 – 500 triệu đồng/năm, có nhà thu cả tỷ đồng. Trên con đường dọc xóm, tiếng vó ngựa lốc cốc hòa trong tiếng cười nói rộn rã, như nhịp điệu đặc trưng của một vùng quê biết làm giàu từ thứ tưởng chừng bị bỏ quên.
Giữa sắc trắng của những chú bạch mã thong dong trên bãi cỏ, người dân nơi đây đã tìm thấy màu mới của cuộc sống – màu của đổi thay, của cần cù, của hy vọng. Và trong tiếng vó không ngừng gõ nhịp trên đất quê, ta nghe như vang lên câu chuyện về một vùng quê biết vượt lên chính mình, từ sự giản đơn mà làm nên điều kỳ diệu.
Chu Minh Khôi
- chăn nuôi ngựa li>
- Thái Nguyên li>
- ngựa bạch li> ul>
- Tri thức dân gian: Chọn, thuần dưỡng ngựa truyền thống của người Mông
- Nhập khẩu ngô năm 2025 giảm cả lượng và kim ngạch
- Hàng tuyển ‘gà tiến vua’ ở Hưng Yên đắt khách
- Nhiều thị trường sửa quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật
- 3 chất gây nhiễm đe doạ sữa heo nái
- Đề xuất tăng chế tài xử phạt và buộc tiêu hủy thức ăn chăn nuôi chứa chất cấm
- Bức tranh chăn nuôi Trung Quốc 2025 và chiến lược giai đoạn 2026 – 2030
- Viet Thai Genetics
- C.P. Việt Nam: Vì một Việt Nam thịnh vượng và phát triển bền vững
- Ngành TĂCN toàn cầu năm 2025: Thị trường dịch chuyển và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam
Tin mới nhất
T7,31/01/2026
- Đến Thái Nguyên, lạc vào “thủ phủ” chăn nuôi ngựa
- Tri thức dân gian: Chọn, thuần dưỡng ngựa truyền thống của người Mông
- Nhập khẩu ngô năm 2025 giảm cả lượng và kim ngạch
- Hàng tuyển ‘gà tiến vua’ ở Hưng Yên đắt khách
- Nhiều thị trường sửa quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật
- 3 chất gây nhiễm đe doạ sữa heo nái
- Đề xuất tăng chế tài xử phạt và buộc tiêu hủy thức ăn chăn nuôi chứa chất cấm
- Bức tranh chăn nuôi Trung Quốc 2025 và chiến lược giai đoạn 2026 – 2030
- Viet Thai Genetics
- C.P. Việt Nam: Vì một Việt Nam thịnh vượng và phát triển bền vững
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà























Bình luận mới nhất