[Chăn nuôi Việt Nam] – “Nên lựa chọn các sản phẩm TĂBS có nguồn gốc từ châu Á so với từ các nước phương Tây như thế nào cho phù hợp?”
PGS. TS. Dương Duy Đồng
Mở đầu
Ngành sản xuất TĂCN ở Việt Nam bắt đầu có sự tăng trưởng rõ rệt từ thập niên 1990 cho đến nay. Đi kèm với sự tăng trưởng này là khối lượng nhập khẩu các nguyên liệu, kể cả những nguyên liệu thức ăn bổ sung (TĂBS) cũng gia tăng không ngừng. Tính về khối lượng, các TĂBS chỉ chiếm khoảng 2% trong một công thức thức ăn nhưng lại chiếm đến hơn 20% trong cơ cấu giá thành công thức chỉ tính trên giá nguyên liệu chưa bao gồm các chi phí sản xuất khác.
Hơn 30 năm được giới thiệu trên thị trường, nhiều loại TĂBS nay trở thành các loại hàng hóa thông thường (commodity). Người sử dụng (nhà máy TĂCN; trại chăn nuôi) bắt đầu có cảm giác đã quen thuộc với chức năng, tính chất của nhiều loại TĂBS đến mức giờ chỉ quan tâm xem giá bán tính trên kg sản phẩm hoặc chi phí tính theo liều dùng trên 1 kg thức ăn thành phẩm là bao nhiêu; cùng với xuất xứ của loại sản phẩm TĂBS đó từ đâu là xem như đã đủ thông tin để quyết định lựa chọn có chấp nhận sử dụng sản phẩm đó hay không?
Sau đại dịch Covid-19 làm cả thế giới chịu nhiều tổn thất, các biến động địa chính trị trong những năm gần đây cũng góp phần tác động lớn, gây xáo trộn đến việc sản xuất, tồn trữ, phân phối hàng hóa cho toàn cầu. Các yếu tố này góp phần tạo nên câu hỏi đang ngày càng phổ biến với số đông thành viên trong cộng đồng ngành TĂCN: “Nên lựa chọn các sản phẩm TĂBS có nguồn gốc từ châu Á so với từ các nước phương Tây như thế nào cho phù hợp?” Mặt khác, các đơn vị sản xuất TĂCN tại Việt Nam cho dù là nguồn vốn trong nước với quy mô khiêm tốn hay các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng đều có sản lượng sản xuất ngày càng tăng trưởng. Vì vậy, ngoài khía cạnh kỹ thuật, tài chính thì đều cần tăng cường yếu tố quản trị doanh nghiệp, trong đó tính ổn định trong tất cả các công đoạn sản xuất đều cần được quan tâm.
Do vậy, không chỉ các nguyên liệu thức ăn căn bản có số lượng dùng lớn, mà cả đến các TĂBS cũng cần được doanh nghiệp xem xét, chọn lựa không chỉ dựa trên tính chất kỹ thuật hay giá cả mà còn cần được xem xét toàn cảnh để quyết định chọn lựa phải đem lại hiệu quả về chất lượng, về tài chính mà cả sự ổn định về quản trị và về hệ thống kiểm soát chất lượng, thu mua, phân phối, v.v… Dưới đây là một số nhận xét theo các khía cạnh kỹ thuật, tài chính, hệ thống phân phối về các loại TĂBS đang có mặt tại thị trường Việt Nam theo nguồn gốc từ hai khối chính, các nước phương Tây bao gồm các quốc gia Bắc Mỹ và các nước khối EU so với khối châu Á với đại diện chính là từ Trung Quốc và trong một vài trường hợp cụ thể để so sánh có bao gồm vài quốc gia châu Á khác.
Tính năng kỹ thuật của các sản phẩm thức ăn bổ sung
Về tính năng kỹ thuật hay nói cách khác là chức năng của từng loại TĂBS, các nhận xét sẽ gồm hai nhóm ý chính là:
Tính mới của sản phẩm; Hiệu quả của một hoặc một số chức năng chính được giới thiệu của sản phẩm.
(1) Trước quãng năm 2010, hầu như mỗi loại TĂBS mới được giới thiệu ở thị trường Việt Nam đều có xuất xứ từ các công ty phương Tây rồi sau đó vài năm mới bắt đầu có sản phẩm tương tự từ vài quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên khoảng sau 2020, tình hình lại có phần đảo ngược. Gần như các nhà sản xuất phương Tây đã ổn định và phần nào bão hòa với các loại sản phẩm TĂBS truyền thống như các acid amin; khoáng hữu cơ; chất chống mốc; chất chống oxy hóa; các loại enzyme; chất nhũ hóa; sắc tố (dùng trong thức ăn gà, vịt, tôm, cá); chất tạo mùi; chất tạo vị ngọt (sweetener – vị ngọt tố); chất hấp phụ độc tố nấm mốc; nhóm các acid hữu cơ, probiotics và chất chiết xuất từ thực vật để hỗ trợ sức khoẻ đường ruột vật nuôi và ít thấy giới thiệu các sản phẩm mới hơn về chức năng.
Trong khi đó từ nguồn gốc Trung Quốc, có những giới thiệu một số sản phẩm mới như các loại peptides kháng khuẩn (bioactive peptides – peptides có hoạt tính sinh học) dùng cho vật nuôi giai đoạn nhỏ; acid mật giúp tăng tiêu hóa dưỡng chất tổng quát mà không bị ảnh hưởng của nhiệt độ cao như trường hợp các enzyme tiêu hóa; hoặc sản phẩm bacteriophages (thực khuẩn thể) từ một công ty Hàn Quốc, có tác dụng ngăn chặn vi khuẩn có hại, mặc dù người đầu tiên khám phá ra công dụng của các bacteriophages là một nhà khoa học người Anh (Frederick Twort) cùng với một nhà khoa học người Pháp (Félix d’ Hérelle).
Chưa kể là có những sản phẩm đã được sử dụng từ lâu nhưng gần đây từ nguồn Trung Quốc đã có những chế phẩm cải tiến hơn như trường hợp acid butyric vốn đã được biết đến nhưng khó dùng vì có mùi khó ngửi thì hiện nay lại có sản phẩm tri-butyrin có hiệu quả hơn mà không có mùi khó chịu cùng với giá cạnh tranh hơn so với các sản phẩm chứa tri-butyrin từ các nước phương Tây hoặc một số sản phẩm thức ăn bổ sung từ Trung Quốc có mặt với ít nhất hai dạng, một dạng đã hoàn chỉnh sẵn sàng sử dụng và một dạng hàm lượng cao để các đơn vị có nhu cầu sử dụng nhiều có thể tuỳ biến linh hoạt hơn.
(2) Về tính hiệu quả của sản phẩm cần nhớ rằng, các sản phẩm TĂBS thường được xem xét dựa trên hàm lượng của một hoặc vài hoạt chất chính, chứ không dựa trên tính chất của hợp chất này so với hợp chất khác như khi xem xét các loại thuốc phòng trị bệnh. Một số hoạt chất lại có những phương pháp đo lường riêng biệt. Ví dụ, sản phẩm enzyme được đánh giá dựa trên đơn vị hoạt lực enzyme chứ không phải là trong sản phẩm có bao nhiêu gam enzyme.
Do vậy, xét về khía cạnh này thì có thể nói là sự khác biệt địa lý về xuất xứ của sản phẩm TĂBS hiện nay không cho thấy sự khác biệt nhiều về hiệu quả của các sản phẩm nếu như được công bố tương đồng về tính chất và về hàm lượng hoạt chất chính có trong sản phẩm đó. Trong một vài trường hợp, thí dụ như về các enzyme phytase và enzyme NSP (enzyme hỗ trợ tiêu hóa các chất đường không phải tinh bột – non starch polysaccharides), tác giả đã thực hiện hơn 10 thí nghiệm dùng các loại enzyme từ các nguồn khác nhau của cả Trung Quốc và từ các quốc gia phương Tây. Kết quả cho thấy, không có sự khác biệt về tính chịu nhiệt độ cao (nhưng dưới 900C), hay với pH thấp (trong khoảng pH 3 – 5), kể cả khả năng hỗ trợ tiêu hóa dưỡng chất của các sản phẩm enzyme được so sánh.
Giá cả của các sản phẩm TĂBS
Về giá cả, thật ra khá khó so sánh vì không chỉ tùy thuộc vào bản thân từng sản phẩm TĂBS mà sẽ phụ thuộc vào thời điểm mua hàng; chính sách của từng đơn vị sản xuất và đơn vị phân phối; khối lượng đơn hàng; các chính sách hậu mãi khác ngoài giá từ phía đơn vị bán hàng và kể cả một số tiêu chí từ người mua yêu cầu. Tuy nhiên, nếu như có lúc tìm được hai trường hợp tương đồng về loại sản phẩm và về hầu hết các tính chất vừa nêu, chỉ khác về xuất xứ nguồn hàng thì đa số đều thấy rằng, các sản phẩm TĂBS có nguồn gốc từ Trung Quốc và/hoặc một vài nước châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc thường có giá bán thấp hơn so với sản phẩm cùng loại đến từ phương Tây với mức chênh lệch có thể từ 5-10% cho đến 20-30% hoặc đôi khi còn hơn nữa.
Các mức giá tốt của những sản phẩm từ một số nước châu Á do nhiều yếu tố tác động nhưng có thể thấy một số yếu tố rõ rệt như khoảng cách địa lý gần đã giúp giảm các chi phí vận chuyển, kho bãi so với sản phẩm đến từ các nước phương Tây; cùng với các yếu tố khác như tỷ giá VNĐ so với ngoại tệ từ châu Á cũng khác so với tỷ giá của đồng USD hoặc Euro. Đồng thời, một số sản phẩm như các enzyme hay các sản phẩm từ công nghệ sinh học thường là những sản phẩm đã có lịch sử vài ngàn năm sản xuất và sử dụng từ các nước châu Á như Trung Quốc so với các nước phương Tây, nên về công nghệ sản xuất các loại sản phẩm này ở khu vực châu Á sẽ thường có hiệu suất cao hơn và từ đó dẫn đến giá bán tính trên đơn vị khối lượng hay tính trên liều dùng của sản phẩm từ phía châu Á cũng sẽ tốt hơn nhiều so với sản phẩm từ phía phương Tây.
Ngoài ra, trước đây các công ty từ phương Tây thường xuyên làm các công việc quảng bá, hỗ trợ (kỹ thuật) cho khách hàng, kể cả việc cử chuyên viên, chuyên gia thường xuyên bay liên lục địa từ Tây sang Đông hoặc tổ chức các chuyến tham quan cho khách hàng từ phương Đông bay sang phương Tây xem xét tìm hiểu về sản phẩm, quy trình sản xuất tại chỗ. Tất nhiên là chi phí của các hoạt động này cũng sẽ được phân bổ vào giá bán sản phẩm nên dẫn đến sự chênh lệch về giá như đã nêu.
Hệ thống phân phối, quảng bá sản phẩm, chính sách hậu mãi hỗ trợ khách hàng
Từ khi Việt Nam bắt đầu phát triển ngành sản xuất TĂCN, tức là quãng thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều công ty từ phương Tây đã bắt đầu đầu tư ở Việt Nam. Từ đó đến nay với các quốc gia từ phương Tây có ngôn ngữ dựa trên tiếng La-tinh hầu như đều dùng chung một ngoại ngữ là tiếng Anh để giao dịch. Đồng thời công việc quảng bá sản phẩm cũng như các chính sách hậu mãi hỗ trợ khách hàng cũng được thực hiện đầy đủ nên sau khoảng hơn 30 năm, tính từ thập niên 90 đến nay, người sử dụng đã dần làm quen nhiều với sản phẩm và các thông tin quảng bá, cùng với hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa, giá cả khá rõ ràng theo kiểu của phương Tây.
Ở chiều ngược lại, với các nước châu Á có ngôn ngữ khác với nền tảng tiếng La-tinh thường ít có xu hướng sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp làm nền tảng giao dịch, có thể thấy các công ty sản xuất phân phối sản phẩm TĂBS trong chăn nuôi xuất xứ từ Trung Quốc và vài nước khác dùng ngôn ngữ tượng hình rất ít có hoạt động quảng bá sản phẩm. Việc giao dịch thường phải dựa vào phiên dịch hoặc nếu ở hai bên đối tác đều có người biết sử dụng ngôn ngữ của phía bên kia thì sẽ là thuận lợi lớn trong việc giao dịch cho các đơn vị như vậy, tuy nhiên các trường hợp thuận lợi này còn hạn chế.
Mặt khác, trong vài thập niên trước đây kể cả cho đến nay, nhiều công ty lớn ở Trung Quốc sản xuất các loại TĂBS thường không sản xuất sản phẩm dưới dạng hàng hóa đầu dùng cuối (end-used) mà chỉ là ở dạng các nguyên liệu rồi bán đi cho các công ty thương mại/sản xuất ở khắp nơi trên thế giới. Trong đó, có các công ty ở phương Tây, để các công ty đó làm các công việc kiểm tra, duy trì độ ổn định hàm lượng hoạt chất trong sản phẩm, thêm chất mang, đóng gói lại và nhất là làm công việc quảng bá, “huấn luyện” cho thị trường biết về sử dụng sản phẩm, cùng với tổ chức hệ thống phân phối ra một mạng lưới rộng rãi toàn cầu.
Một ấn tượng không tốt của thị trường Việt Nam trước đây đối với sản phẩm nói chung và cả sản phẩm TĂBS xuất xứ từ Trung Quốc là: “hàng Trung Quốc thường giá rẻ nhưng chất lượng không cao hoặc chất lượng cao nhưng không ổn định” nên từ đó khá nhiều đơn vị sản xuất TĂCN vẫn giữ lập trường hoặc là “không dùng hàng Trung Quốc dù ở bất cứ giá nào” hoặc là “nếu hàng Trung Quốc rẻ hơn hàng phương Tây ở mức chỉ một 9 một 10 thì dùng hàng phương Tây tiện hơn vì sẽ yên tâm về độ ổn định chất lượng sản phẩm”.
Ngoài các nhận xét trong ba nhóm nội dung đã nêu trên, cũng cần giải thích thêm, tại sao không có so sánh sản phẩm sản xuất tại Việt Nam so với hai khối xuất xứ đã nêu? Lý do là vì gần như chưa có công ty nào ở Việt Nam thật sự sản xuất một sản phẩm TĂBS nào đó. Công việc “sản xuất” nếu có thường chỉ là nhập nguyên liệu đã tinh chế về rồi thêm chất mang và đóng gói lại để đưa ra thị trường chứ chưa có công ty nào thực hiện một quy trình hoàn chỉnh, bao gồm từ công tác nghiên cứu phát triển cho đến sản xuất ra hoạt chất dưới dạng nguyên liệu rồi tiếp tục các công đoạn hoàn thiện để trở thành sản phẩm hoàn chỉnh đầu cuối phân phối ra thị trường.
Lý do thường không hẳn nằm ở lĩnh vực kỹ thuật hay công nghệ sản xuất mà đó là bài toán cân đối giữa khả năng tiêu thụ, tiếp nhận sản phẩm của thị trường nếu chỉ tính nội địa chỉ xấp xỉ 100 triệu dân so với quy mô và quy trình sản xuất từng sản phẩm phải ở mức độ sao cho có hiệu suất sản xuất tối đa, từ đó tối ưu được vốn đầu tư và tổ chức hệ thống lưu thông phân phối sản phẩm cho đến người dùng cuối là từng nhà máy sản xuất TĂCN và/hoặc từng trại chăn nuôi.
Tóm lại, việc chọn lựa sử dụng từng loại sản phẩm TĂBS trong chăn nuôi là tùy vào quan niệm và sự xem xét của các cá nhân chịu trách nhiệm phân công trong các đơn vị sẽ sử dụng. Với sức ép ngày một gia tăng của sự cạnh tranh trong các đơn vị sản xuất của từng ngành và trong cả một chuỗi sản xuất, cũng như mong muốn của người tiêu dùng luôn muốn có được các sản phẩm có chất lượng, với trường hợp của ngành chăn nuôi thì sản phẩm từ chăn nuôi phải ngon, mà giá bán phải hợp lý thì rõ ràng ở mỗi đơn vị sản xuất khi lựa chọn nguyên liệu đầu vào sẽ cần xem xét tổng hợp, dựa trên nhiều nội dung, tiêu chí để đánh giá và đi đến quyết định lựa chọn (hợp lý) cuối cùng, chứ không nên chỉ dựa theo cảm tính hoặc một thành kiến nào đó có sẵn từ trước giờ.
Như vậy, câu khẩu hiệu: “Hãy là người tiêu dùng thông minh” có vẻ nên áp dụng cho các nhà sản xuất TĂCN và các đơn vị chăn nuôi, trong trường hợp này đang đóng vai người tiêu dùng, để có lựa chọn phù hợp nhất và từ đó đem lại hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho mỗi đơn vị cũng như mở rộng ra cho ngành sản xuất, từ đó đem lại hiệu quả, lợi tức cao hơn cho toàn xã hội.
PGS. TS. Dương Duy Đồng
(dong.duongduy@hotmail.com)
- ngành chăn nuôi li>
- thức ăn chăn nuôi li> ul>
- Tối ưu dinh dưỡng và sức khỏe đường ruột trong giai đoạn úm gà
- 6 bệnh phổ biến nhất trên heo
- Độ ổn định của khoáng vi lượng: Nguồn gốc có quan trọng không?
- Công bố báo cáo đánh giá tính an toàn vắc xin AVAC ASF LIVE đối với lợn giống
- Hệ vi sinh vật đường ruột có thể thúc đẩy sự tích luỹ chất béo ở lợn nạc
- Nguyên nhân động dục trở lại bất thường ở lợn
- Bệnh hà, thối móng ở trâu, bò
- Huế: Cơ hội mới từ mô hình nuôi gà kiến
- Vượt xa hơn cả hoạt tính kháng khuẩn – Khả năng điều hòa miễn dịch của Tylvalosin chống lại vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae (gây bệnh Viêm phổi địa phương/suyễn heo)
- Tinh chỉnh dinh dưỡng cho gà nuôi dài ngày
Tin mới nhất
T4,28/01/2026
- Tối ưu dinh dưỡng và sức khỏe đường ruột trong giai đoạn úm gà
- Lựa chọn TĂBS nguồn gốc châu Á hay phương Tây: Hãy là người tiêu dùng thông minh!
- Điều kiện sinh vật biến đổi gene được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
- 20 năm kiến tạo giá trị đồng hành cùng sự phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam
- Tự động hóa chuyển bao để nâng cao hiệu suất: Giới thiệu bộ chuyển bao tự động BES-1090-A
- Tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi
- Giá heo hơi hôm nay 28-1: Tiếp tục tăng mạnh, miền Bắc vẫn giữ đỉnh
- Nhật Bản: Sử dụng AI để xác định giới tính của gà con ngay từ trong trứng
- Thu giữ CO2 từ nhà máy điện để sản xuất protein thay thế bột cá
- 6 bệnh phổ biến nhất trên heo
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà























Bình luận mới nhất