Heo cai sữa là khởi đầu quan trọng cho suốt giai đoạn nuôi thịt. Trong đó, lượng ăn trong tuần đầu tiên mới cai sữa tác động trực tiếp đến sự phát triển và sức khỏe đường ruột, ảnh hưởng đến miễn dịch và khả năng tăng trọng trong suốt giai đoạn nuôi heo cai sữa (Fabà et al., 2024, 2025).

ThS.BSTY Nguyễn Văn Non -. Giám đốc Kỹ thuật heo – Khối trang trại, Cargill Việt Nam
ĐẶC ĐIỂM HEO CON MỚI CAI SỮA
Heo con tăng trưởng đặc biệt nhanh. Nếu so sánh với khi mới sinh thì trọng lượng heo con tăng gấp đôi sau một tuần, sau 21 ngày là gấp 4 lần và sau 42 ngày là gấp 10 lần trọng lượng ban đầu (Szudzik et al., 2018). Trong đó,
cai sữa được xem là giai đoạn quan trọng nhất, khủng hoảng nhất trong cuộc đời heo con. Khi cai sữa, heo con bị stress do thách thức trong việc thích nghi với thức ăn mới (cám tập ăn), tách mẹ, vận chuyển và ghép bầy. Các yếu tố gây stress này làm xáo trộn chức năng tiêu hóa và hấp thu của ruột do tổn thương nhung mao ruột, làm thay đổi đáp ứng miễn dịch niêm mạc, tổn thương hệ thống chống stress oxy hóa (Ahasan et al., 2019; Corino et al., 2021; Novais et al., 2021). Biểu hiện lâm sàng trên heo khi cai sữa có thể quan sát thấy bao gồm: giảm lượng ăn vào, giảm thể trọng và tiêu chảy.
Khi cai sữa, heo con có lượng ăn giảm nhiều, thiếu hụt năng lượng và giảm nhanh đường huyết, đồng thời thiếu insulin làm giảm quá trình trao đổi chất (Kempen et al., 2025). Giảm lượng ăn khi cai sữa dẫn đến thiếu chất dinh dưỡng trong lòng ruột, gây ra các vấn đề: teo nhung mao ruột, tăng tính thấm ruột và gây viêm, giảm hoạt động của enzyme và hấp thụ chất dinh dưỡng, dẫn đến tăng trọng kém (Fabà et al., 2024). Hơn nữa, sự hiện diện của các chất dinh dưỡng chưa được tiêu hóa và hấp thụ trong lòng ruột, đặc biệt là protein, gây ra lên men thừa ở ruột, là một yếu tố nguy cơ gây ra các rối loạn và bệnh đường tiêu hóa.

Hinh 1.Tăng trọng và tích lũy lipid, protein và nước xung quanh thời điểm cai sữa heo con (Whittemore et al., 1981)
Khi cai sữa, do lượng ăn giảm nhiều so với nhu cầu và stress gây tiêu hao nhiều năng lượng. Điều này làm cân bằng năng lượng âm, heo con ưu tiên duy trì mô nạc (protein) của cơ thể, tích nước giảm dần nhưng giảm tích trữ mô mỡ trong suốt tuần đầu tiên sau khi cai sữa (Van Kempen et al., 2023).
CẢI THIỆN LƯỢNG ĂN CHO HEO CAI SỮA
Cải thiện lượng ăn trong những ngày đầu mới cai sữa là rất quan trọng. Để ngăn ngừa tình trạng giảm cân sau cai sữa, heo con cần lượng ăn trung bình hơn 207-227g/ngày (Van Kempen et al., 2023). Nghiên cứu cho thấy (Bruininx et al., 2001), chỉ khoảng 50% heo con ăn cám trong 24 giờ và 10% heo con không ăn kéo dài tới 48 giờ sau khi cai sữa, mặc dù có đến 95% heo tiếp xúc máng ăn trong 4 giờ đầu tiên. Vì vậy, việc tập ăn cho heo con cần được quan tâm đúng mức. Tập ăn sớm cho heo con từ 5-7 ngày tuổi với cám tập ăn có đường kính viên từ 10-12mm cho kết quả tốt về tổng lượng cám tập ăn đến cai sữa và trọng lượng khi cai sữa (Kempen et al., 2025). Trong tuần đầu tiên cai sữa, heo con có lượng ăn/ngày cao (tăng số lần và thời gian tiếp xúc máng ăn sớm ngay sau khi cai sữa) tiêu thụ thức ăn nhiều hơn trong suốt thời gian cai sữa. Heo con có lượng ăn/ ngày cao trong vòng 3 ngày đầu tiên sau khi cai sữa có khối lượng ruột rỗng (không chứa thức ăn) nặng hơn, cải thiện hình thái thành ruột, và giảm quá trình lên men protein ở ruột non 1 tuần sau khi cai sữa (Fabà et al., 2024). Cho heo con cai sữa ăn mức cao trong vòng 3 ngày đầu tiên giúp tối ưu lượng ăn và tăng trọng cao hơn với sự khác biệt có ý nghĩa so với cho ăn hạn chế (Fabà et al., 2025).
Nghiên cứu gần đây (Fabà et al., 2024) cho rằng, trọng lượng cai sữa và lượng ăn tuần đầu khi mới cai sữa là hai yếu tố độc lập ảnh hưởng đến hành vi ăn uống và năng suất ở giai đoạn đầu và cuối của giai đoạn cai sữa, tác động đến sự phát triển của đường ruột heo con. Trong tuần đầu tiên cai sữa, heo con có lượng ăn/ ngày cao (tăng số lần và thời gian tiếp xúc máng ăn sớm ngay sau khi cai sữa) tiêu thụ thức ăn nhiều hơn trong suốt thời gian cai sữa.
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA DINH DƯỠNG VÀ MIỄN DỊCH
Mặc dù nhiều biện pháp an toàn sinh học đã được tăng cường tại trang trại, nhưng vật nuôi thường tiếp xúc với các cá thể bị bệnh mãn tính hoặc cận lâm sàng hoặc đối mặt với stress nhiệt, khiến lượng thức ăn tiêu thụ và năng suất thấp hơn. Sự khác biệt về sức khỏe và tình trạng miễn dịch là một trong những lý do quan trọng khiến năng suất giữa các trang trại có sự khác biệt lớn (Pastorelli et al., 2012). Dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng điều hòa chức năng miễn dịch, có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa sức khỏe và sức đề kháng bệnh (Bischoff, 2011), do đó cần đáp ứng tối ưu các chất dinh dưỡng trong thức ăn cho heo nếu muốn duy trì sự tăng trưởng, sức khỏe và năng suất ở mức tối ưu. Trong đó, ngoài chức năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng, ruột còn đóng vai trò là hàng rào miễn dịch bằng cách tiết ra các enzyme tiêu hóa, các chất kháng khuẩn từ hệ vi sinh đường ruột và hormone trong các tế bào ruột (Bischoff, 2011).
Quá trình đáp ứng miễn dịch đòi hỏi nhu cầu protein rất cao, liên quan trực tiếp đến sản sinh kháng thể. Các tế bào bạch cầu cũng cần protein để tăng trưởng, tăng sinh và biệt hóa thành các tế bào hiệu ứng. Hơn nữa, các enzyme và cytokine phụ thuộc nguồn amino acid từ khẩu phần. Cytokine được sản sinh từ các tế bào miễn dịch giúp dẫn truyền tín hiệu đáp ứng miễn dịch, điều hòa phản ứng viêm, và đáp ứng miễn dịch toàn thân.
Trong quá trình đáp ứng miễn dịch của vật chủ, một số phân tử gây viêm có thể tác động đến vùng dưới đồi (hypothalamus) và trung khu điều hòa thân nhiệt, gây sốt. Đây là phản ứng chống nhiễm trùng tự nhiên và cần nhiều năng lượng. Tuy nhiên, quá trình viêm cũng làm giảm tính thèm ăn và giảm lượng ăn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tăng trưởng của vật nuôi.
Khả năng miễn dịch kém có thể dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và thời gian nhiễm trùng kéo dài, làm giảm lượng thức ăn được nạp, mất chất dinh dưỡng và suy giảm sức khỏe của vật nuôi. Do vậy, cân bằng giữa đáp ứng miễn dịch và năng suất là rất quan trọng để giữ ổn định năng suất.

Hinh 2. Tác động của đường ruột lên sức khỏe heo (Bischoff, 2011)

Hinh 3. Bệnh viêm phổi – màng phổi do Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh tích viêm phổi dính sườn
phát hiện tại lò mổ (Antenucci et al., 2018)
TỐI ƯU TĂNG TRƯỞNG CHO HEO THỊT
Bảo vệ sức khỏe đàn heo từ khi cai sữa đến xuất thịt là nhiệm vụ đầu tiên nhằm giảm thiểu nguy cơ tử vong và đảm bảo khả năng tăng trưởng tốt nhất. Việc đầu tiên và cơ bản nhất là tiêm phòng vaccine ngừa các bệnh nguy hiểm (bệnh do virus, bệnh thiệt hại kinh tế cao do vi khuẩn – ví dụ như APP (viêm phổi – màng phổi) do Actinobacillus pleuropneumoniae gây đột tử và viêm phổi dính sườn trên heo thịt). Bên cạnh đó, cần kết hợp với các biện pháp an toàn sinh học tốt để giảm thiểu sự lưu hành và bài thải mầm bệnh trong trại, đồng thời tăng cường miễn dịch
đàn heo.
Khi stress nóng, cả vệ sinh thức ăn (thức ăn dễ lên men và vi khuẩn sinh sôi quá mức) và hành vi của vật nuôi đều bị ảnh hưởng. Stress nhiệt ảnh hưởng đến hành vi ăn uống, thay đổi cả tần suất cho ăn và lượng thức ăn tiêu thụ. Heo thường chỉ ăn hoặc ăn quá nhiều vào ban đêm, dẫn đến tiêu thụ quá nhanh hoặc tiêu thụ quá mức. Xu hướng này đặc biệt tăng trên heo có thể trọng lớn với khả năng tản nhiệt thấp hơn. Do đó cần áp dụng các biện pháp làm giảm stress nhiệt như: tăng thông thoáng, tăng công suất hệ thống làm mát, giảm mật độ nuôi, và bổ sung các chất chống oxy hóa/ chống stress (vitamin C/E/ selenium).
Trong tình hình dịch tễ hiện nay, tình trạng bệnh do Mycoplasma suis xảy ra rộng khắp. Do vậy, việc kiểm soát lây nhiễm qua đường máu là rất quan trọng: thực hiện tiêm phòng hoặc điều trị heo bệnh luôn đi đôi với thay kim tiêm (heo lớn thì dùng 1 kim/con; hoặc tối đa 5 con/ kim), áp dụng chương trình điều trị dự phòng với cám thuốc chứa Tetracycline (Doxycycline 500ppm hoặc 800ppm Chlortetracycline/ Oxytetracycline) kéo dài từ 3-4 tuần nhằm giảm thiểu thiệt hại do Mycoplasma suis. Đặc biệt trong giai đoạn sau cai sữa, với các mầm bệnh gây nhiễm trùng máu do vi khuẩn (Streptococcus suis, Glasserella parasuis,…), người nuôi cũng cần chủ động dùng cám thuốc để kiểm soát.
Chương trình xét nghiệm định kỳ (monitoring test) là biện pháp quan trọng nhằm phát hiện sớm các mầm bệnh lưu hành và đánh giá hiệu quả bảo hộ sau tiêm phòng. Chủ động xét nghiệm các mầm bệnh virus, kết hợp đánh giá kháng sinh đồ và chấm điểm bệnh tích phổi cũng thường được áp dụng. Đặc biệt các mầm bệnh đường hô hấp (PRRS, PCV2, M. hyopneumoniae/ M.hyo, Actinobacillus pleuropneumoniae/ APP,…) trong hội chứng hô hấp phức hợp (PRDC – Porcine Respiratory Disease Complex) tác động tiêu cực đến khả năng tăng trọng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn. Nghiên cứu chỉ rõ, heo thịt có bệnh tích phổi đều có chất lượng quầy thịt kém (Permentier et al., 2015; Przyborowska et al., 2024). Đánh giá bệnh tích phổi tại lò mổ là một phương pháp có ý nghĩa và đang được phổ biến nhằm kiểm soát tốt vấn đề hô hấp trong các hệ thống chăn nuôi heo công nghiệp, đặc biệt là bệnh APP và M.hyo. Phòng bệnh APP bằng vaccine và kiểm soát Mycoplasma suis bằng kháng sinh là yêu cầu quan trọng, nhất là trong giai đoạn nuôi thịt. Đàn heo được tiêm phòng vaccine APP cho thấy cải thiện tăng trọng và giảm bệnh tích phổi, đặc biệt trong điều kiện có virus huyết PRRS (Bregen et al., 2026).
KẾT LUẬN
Việc tối ưu tiềm năng tăng trưởng cho heo thịt cần được chuẩn bị sớm ngay từ những ngày đầu mới cai sữa, trong đó vượt qua stress cai sữa và cải thiện lượng ăn hàng ngày là mục tiêu quan trọng. Đồng thời, người nuôi cần lưu ý thực thi chương trình kiểm soát sức khỏe đàn heo bằng vaccine và điều trị dự phòng bằng kháng sinh, chương trình an toàn sinh học tốt nhằm giảm thiểu lưu hành và tác động tiêu cực của các mầm bệnh lên đường hô hấp và hệ miễn dịch, giúp tối ưu khả năng tăng trưởng và chất lượng quầy thịt. Việc tiếp theo thật đơn giản: áp dụng chương trình dinh dưỡng phù hợp theo giai đoạn để tối ưu tiềm năng di truyền giống và hiệu suất chuyển hóa dinh dưỡng, nhằm mục tiêu cuối cùng là đạt mức giá thành chăn nuôi tốt nhất.
Tài liệu tham khảo theo yêu cầu
- stress cai sữa li> ul>
- Khoa Thú y (VNUA) và doanh nghiệp: “Chung tay” nâng tầm chất lượng nhân lực ngành Thú y
- Trứng gà cà gai leo SADU: “Lối đi riêng” cho người chăn nuôi Việt
- Việt Nam trong làn sóng tăng trưởng “kinh tế thú cưng”
- Lào Cai: Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng nhẹ trong 3 tháng đầu năm
- Ảnh hưởng của các mức khoáng, vitamin và điện giải tới sức sản xuất của lợn thịt
- Siết chặt kiểm soát cơ sở giết mổ động vật
- Xuất khẩu thịt lợn của Đức tăng mạnh
- Việt Nam – hình mẫu “Một sức khỏe” trong phòng chống dịch bệnh
- Phòng, chống dịch bệnh động vật thời điểm giao mùa: Chủ động từ sớm, kiểm soát từ gốc
- Làn sóng tăng trưởng của thị trường thú cưng và cơ hộ mới cùng ELT Science
Tin mới nhất
T6,10/04/2026
- Quản lý stress cai sữa và tối ưu năng suất heo thịt
- Khoa Thú y (VNUA) và doanh nghiệp: “Chung tay” nâng tầm chất lượng nhân lực ngành Thú y
- Trứng gà cà gai leo SADU: “Lối đi riêng” cho người chăn nuôi Việt
- Việt Nam trong làn sóng tăng trưởng “kinh tế thú cưng”
- Lào Cai: Chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng nhẹ trong 3 tháng đầu năm
- Ảnh hưởng của các mức khoáng, vitamin và điện giải tới sức sản xuất của lợn thịt
- Siết chặt kiểm soát cơ sở giết mổ động vật
- Xuất khẩu thịt lợn của Đức tăng mạnh
- Việt Nam – hình mẫu “Một sức khỏe” trong phòng chống dịch bệnh
- Phòng, chống dịch bệnh động vật thời điểm giao mùa: Chủ động từ sớm, kiểm soát từ gốc
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất