[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Sự biến đổi di truyền của Porcine Circovirus type 2 (PCV2) được cho là yếu tố gây nên sự thất bại của việc tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh do PCV2, nhất là khi có sự xuất hiện kiểu gien PCV2d tại các trại heo.
Bệnh do PCV2 có thể được kiểm soát hiệu quả bằng vắc-xin. Tuy nhiên, theo thời gian, cùng với việc sử dụng vắc-xin, PCV2 đã có nhiều biến đổi, từ kiểu gien (genotype) ban đầu, được đặt tên là PCV2a, đã hình thành nhiểu kiểu gien khác như PCV2b, PCV2c, PCV2d, PCV2e… Trong đó, PCV2d dần phổ biến tại các trại chăn nuôi heo trên toàn thế giới. Sự biến đổi di truyền của PCV2 được cho là yếu tố gây nên sự thất bại của việc tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh do PCV2, nhất là khi có sự xuất hiện kiểu gien PCV2d tại các trại heo.
Bộ gien của Circovirus dài 1.766 đến 1.768 nucleotide, với nhiều khung đọc mở (ORF – Open Reading Frame), trong đó được biết đến nhiều nhất là ORF1, ORF2 và ORF3. Trong đó, ORF2 có nhiều biến đổi nhất, mã hoá cho việc tổng hợp protein capsid, là thành phần chính quyết định sự đa dạng di truyền, đặc điểm kháng nguyên và độc lực của PCV2. Do vậy, ORF2 thường được sử dụng để xét nghiệm – chẩn đoán, xác định kiểu di truyền của PCV2, và nghiên cứu vắc-xin phòng bệnh do PCV2. Cho đến hiện nay, dựa vào trình tự nucleotide của ORF2, PCV2 có thể được phân chia thành 8 kiểu gien khác nhau: a, b, c, d, e, f, g, h (Franzo G. et al., 2018), trong đó quan trọng nhất là PCV2a, PCV2b & PCV2d.
PCV2d được cho là kiểu gien mới – chiếm đa số trong các chủng PCV2 phân lập được ở nhiều nước châu Á
PCV2a chiếm phần lớn cho đến năm 2003, và sau đó là PCV2b. Mặc dù sự xuất hiện của PCV2b có liên quan đến sự bùng nổ các ổ dịch do PCV2 trên heo, các nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về độc lực giữa PCV2a và PCV2b. PCV2c được ghi nhận lẻ tẻ, đầu tiên ở Đan Mạch và gần đây trên heo rừng ở Braxin. PCV2d hiện diện phổ biến trên các đàn heo nuôi từ khoảng năm 2006. Dựa trên nghiên cứu hồi cứu, PCV2e được ghi nhận ở Mexico và Mỹ vào khoảng năm 2006 trở về trước. Kiểu gien PCV2f, được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc, và sau đó là ở Croatia, Ấn Độ và Indonesia.
Sau thập niên những năm 2000, PCV2d bắt đầu trở nên phổ biến và hiện diện trong phần lớn các ca bệnh lâm sàng liên quan đến PCV2. PCV2d được cho là kiểu gien mới – chiếm đa số trong các chủng PCV2 phân lập được ở nhiều nước châu Á.
Tại Thái Lan, tỷ lệ PCV2d dương tính tăng dần từ 58,33% năm 2013, lên 87% năm 2014, và đến 100% năm 2015 (Nattarat Thangthamniyoma et al., 2017).
Tại Đài Loan trong giai đoạn 2011 – 2017 (Guang-Ting Tsai et al., 2019) là 88%.
Tại Hàn Quốc trong giai đoạn 2016 – 2017 là 66 – 69,4% và 94,7% trong năm 2018 (Seok-Jin Kang et al., 2020).
Theo Yao J. et al., 2019, tại Trung Quốc, các kiểu gien PCV2 có sự thay đổi rõ rệt theo thời gian: trong giai đoạn từ 2002 – 2008, PCV2b chiếm ưu thế trong các ca nhiễm PCV2 ở heo; từ 2009 – 2013 ghi nhận có sự gia tăng của PCV2d, cùng với PCV2b xuất hiện phổ biến; nhưng từ năm 2014 trở đi, PCV2d đã trở thành kiểu gien quan trọng nhất trên đàn heo nuôi của Trung quốc (Hình 1).
Hình 1: Sự phân bố các kiểu gien PCV2 tại Trung Quốc theo thời gian. Yao et al., 2019.
Tương tự Nianci Lv et al., 2020, ghi nhận đến 80% các mẫu bệnh phẩm heo bệnh chết do PCV2, từ năm 2016 – 2019 tại Yunnan Trung Quốc, dương tính với PCV2d.
Tại Việt Nam, theo Le T. T. P. et al., 2018, PCV2d bắt đầu xuất hiện từ năm 2012, có khuynh hướng tăng dần và trở nên phổ biến nhất với 52% các chủng PCV2d phân lập được trong giai đoạn 2007 – 2016 (Hình 2). Trong nghiên cứu tại Bỉ cũng ghi nhận sự tiến hoá của PCV2 phân lập trong giai đoạn từ 2009 – 2018, chuyển từ PCV2a sang PCV2b và hiện nay là PCV2d (Ruifang Wei et al., 2019).
Hình 2: Phân bố theo thời gian của các phân lập PCV2 thu thập được ở miền Nam Việt Nam từ năm 2007 đến 2016. Nguyễn Thị Thu Phương và ctv., 2018.
Ngoài ra, theo Giovanni Franzo et al., 2018, khuynh hướng thay đổi các kiểu gien theo khu vực cũng được thể hiện rõ. PCV2d xuất hiện nhiều nhất ở châu Á và Bắc Mỹ, đặc biệt chiếm đa số ở châu Á (Hình 3). Có thể đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiêm phòng vắc-xin được sản xuất dựa trên PCV2a.
Hình 3: Số lượng trình tự các kiểu gien PCV2 theo từng năm (G. Franzo et al., 2018)
Các nghiên cứu về miễn dịch học ghi nhận, mặc dù có miễn dịch chéo giữa các kiểu gien, nhưng vẫn có sự khác nhau về đáp ứng kháng thể trung hoà giữa các kiểu gien của PCV2. Trên thực tế, kiểu gien PCV2d đang có khuynh hướng nhiễm phổ biến trên các đàn heo nuôi hiện nay, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của vắc-xin phòng bệnh PCV2.
Các nghiên cứu cho thấy, tuy có miễn dịch chéo giữa các vắc-xin khác kiểu gien, nhưng dường như vắc-xin PCV2 đồng kiểu gien đem lại hiệu quả miễn dịch tốt hơn so với khác kiểu gien (Tanja Opriessnig, 2019, Hui-Gang Shen et al., 2012).
Kiểu gien của PCV2 không chỉ có ý nghĩa về mặt dịch tễ mà còn liên quan đến việc kiểm soát bệnh do PCV2 gây ra. Theo nguyên lý miễn dịch, hiệu quả miễn dịch sẽ cao nhất khi kháng nguyên và kháng thể hoàn toàn trùng khớp nhau. Các nghiên cứu về miễn dịch học ghi nhận, mặc dù có miễn dịch chéo giữa các kiểu gien PCV2a, PCV2b và PCV2d, vẫn có sự khác nhau về đáp ứng kháng thể trung hoà giữa các kiểu gien của PCV2. Trên thực tế, kiểu gien PCV2d đang có khuynh hướng nhiễm phổ biến trên các đàn heo nuôi hiện nay, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của vắc-xin phòng bệnh PCV2./.
PGS. TS Nguyễn Ngọc Hải
Bộ môn Vi sinh & Bệnh truyền nhiễm Thú y – Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1.Guang-Ting Tsai et al., 2019. https://doi.org/10.1038/s41598-019-47209-1.
2. Franzo G., Segale´s J., 2018. PLoS ONE 13 (12). https://doi.org/10.1371/journal. pone.0208585.
3. Jing Yao et al., 2019. BMC Veterinary Research (2019) 15:118.
4. Lê Thị Thu Phương và ctv., 2018. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, trang 23-3, 2018.
5. Tanja Opriessnig et al., 2013. Vaccine 31 (2013) 487– 494.
6. Hui-Gang Shen et al., 2012. Journal of General Virology, 93, 1345–1355.
7. Seok-Jin Kang et al., 2020. BMC Veterinary Research.
8. Nianci Lv et al., 2020. BMC Veterinary Research (2020) 16:96.
9. Ruifang Wei et al., 2019. Virus Evolution, 2019, Vol. 5, No. 2.
10. Nattarat Thangthamniyoma et al., 2017. Veterinary Microbiology 208 (2017) 239–246.
- PVC2 li>
- virus PCV2 li>
- Virus PCV2d li>
- virus circo li>
- Circo chủng d li>
- PCV2 chủng d li> ul>
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- An toàn sinh học chống ASF
- Đánh giá hiệu quả bảo hộ vaccine AVAC ASF LIVE trước biến chủng genotype I/II
- 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chủng ngừa vắc xin cho gà thịt
- Kiểm soát tiểu khí hậu và phúc lợi trong nuôi vịt hiện đại: Hướng dẫn thực tiễn và bằng chứng khoa học
- 4 nguồn chất xơ tự nhiên cho heo, gia cầm, bò sữa
- Tương lai của việc kiểm soát bệnh cầu trùng
- Quy trình phòng hội chứng EDS-76 trên chim cút đẻ trứng hiệu quả từ ứng dụng bộ sản phẩm SADOVA
Tin mới nhất
T6,09/01/2026
- Thị trường heo hơi khởi sắc cuối năm, nguồn cung vẫn đảm bảo dịp Tết
- TP. HCM: Xử lý nghiêm việc kinh doanh, giết mổ động vật trái phép
- Hàn Quốc nhập khẩu hơn 2 triệu quả trứng từ Mỹ để bình ổn giá
- Bắc Ninh tăng cường kiểm dịch, kiểm soát giết mổ bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết và Lễ hội xuân 2026
- Đồng Nai: Ưu tiên phát triển chăn nuôi theo chuỗi khép kín
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Sản lượng thịt heo năm 2025 tăng gần 4%
- Chuyển dịch mạnh sang chăn nuôi tập trung, quy mô lớn
- Toàn cảnh bức tranh nông nghiệp Việt Nam năm 2025 qua những con số
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh tạo dấu ấn sau năm đầu tiên sáp nhập
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà


























Bình luận mới nhất