[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Hệ vi sinh đường ruột có tiềm năng lớn lao trong trao đổi chất và chúng ta càng ngày hiểu hơn về mối liên hệ giữa năng lượng trao đổi chất và thành phần hệ vi sinh. Một số nguyên tố vi lượng (khoáng vi lượng) cụ thể ở tình trạng tự do (không liên kết) có thể ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột. Nguồn kẽm tăng cường (potentiated zinc) có tác dụng tiền-hấp thu (trước khi được hấp thu) trên hệ vi sinh, cũng như có độ sinh khả dụng cao đóng vai trò quan trọng đối với các chức năng cơ bản của cơ thể. Sự tác dụng trên cả hai mặt của lớp màng đệm (lamina propria) có thể là một chiến lược mới mẻ cho việc bổ sung các khoáng vi lượng cation và dinh dưỡng.
Vai trò hậu – hấp thu của kẽm trong hoạt động chức năng của metalloenzyme
Kẽm đóng vai trò thiết yếu trong chức năng enzyme và trao đổi chất trong cơ thể
vì kẽm là nền tảng cơ bản của hoạt động của hơn 300 metalloenzyme. Các metalloenzyme này thường sử dụng kim loại cation làm đồng – yếu tố (co-factor) làm thành phần của cấu trúc. Do đó, ta dễ hiểu tại sao việc bổ sung kẽm có độ sinh khả dụng cao là chìa khóa cho:
- Hệ miễn dịch: Từ lớp bảo vệ vật lý của da/niêm mạc cho đến sự kích hoạt các
chất điều giải miễn dịch/immunologic mediators (như cytokine, bạch cầu trung tính/neutrophils hoặc tế bào lympho/lymphocytes…). - Chức năng kháng oxy hóa: Kẽm có thể làm tăng metallothionein – một
loại protein giàu cystine có tác dụng trung hòa các gốc tự do (free radicals). Protein này được tổng hợp trong mô tế bào khi cơ thể vật nuôi hấp thu kẽm và metallothionein liên kết 7 nguyên tử kẽm cho mỗi phân tử của chúng. - Tính toàn vẹn của mô tế bào, sự tăng sinh và biệt hóa tế bào: Kẽm tham gia
vào quá trình chữa lành vết thương, từ sửa chữa màng tế bào đến đông máu
và điều chỉnh tình trạng viêm. Những lợi ích này có thể đạt được nếu sử dụng bất kỳ nguồn kẽm sinh học nào có là tác dụng hậu – hấp thụ. Nhưng một số dạng kẽm có thể hoạt động chủ yếu ở đường tiêu hóa và hoạt động trước khi chúng được hấp thu bởi protein vận chuyển kẽm (Zrt/Irt-line Protein/ZIP) không?
Kẽm tăng cường giúp điều khiển sự đa dạng của hệ vi sinh đường ruột

Từ khi ấp nở đến khi giết mổ, sức khỏe đường ruột có vai trò vô cùng quan trọng trong năng suất gà thịt. Một số nghiên cứu in-vitro (trong ống nghiệm) và in-vivo (trong cơ thể sống) đã chỉ ra rằng kẽm tăng cường (HiZox®) có hiệu quả hơn trong việc hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh E. coli và C. perfringens. Tác dụng này liên quan đến đặc tính động học hòa tan chậm kết hợp với diện tích bề mặt riêng (specifc surface area) cao của Hizox, làm tăng bề mặt của khoáng tiếp xúc với vi sinh vật và từ đó tăng cường hiệu quả kháng khuẩn.
Cải thiện sức khỏe đường ruột chỉ là một trong những cơ chế tiềm năng của kẽm tăng cường trong việc nâng cao năng suất vật nuôi. Khi đánh giá sự đa dạng α (chỉ số Shannon và Simpson) trong điều kiện vật nuôi bị viêm ruột hoại tử, phân tích hệ vi sinh bằng trình tự gen rRNA 16s cho thấy, kẽm tăng cường gia tăng sự đa dạng và khả năng phục hồi của vi khuẩn ở hồi tràng ở bậc phân loại chi (sinh học). Quan sát cho thấy, khi tăng liều kẽm tăng cường thì sẽ gây thay đổi đáng kể, bao gồm giảm lượng vi khuẩn coliform và gia tăng số vi khuẩn axít lactic. Vi khuẩn sản xuất axít lactic vốn có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe đường ruột. Như đã quan sát được trong các nghiên cứu trước đây, kẽm tăng cường có thể điều khiển hệ vi sinh theo hướng tốt hơn, cải thiện FCR, dẫn đến năng suất vật nuôi cao hơn.
Hiệu quả tiền – hấp thụ của kẽm với năng suất
Một thử nghiệm công bố gần đây bởi Đại học Dankook ở Hàn Quốc cũng cho thấy sự chú ý đến một dạng kẽm tăng cường hoạt tính có độ sinh khả dụng cao (Hizox, Animine ). Thử nghiệm này đã đánh giá tác động của một số liều kẽm tăng cường trên năng suất, sức khỏe đường ruột, chất lượng thịt và mức thải khí ở đàn gà thịt.
Tổng cộng có 680 con gà thịt giống Ross 308 được chia thành 4 nhóm thử nghiệm với 10 nghiệm thức mỗi nhóm và thử nghiệm kéo dài 35 ngày. Các nhóm thử nghiệm bao gồm: nhóm đối chứng âm không bổ sung kẽm tăng cường (32 ppm kẽm thường) và các nhóm bổ sung kẽm tăng cường với mức 50, 75 và 100 ppm.
Kết quả cho thấy, sự tương quan đáng kể giữa phản ứng sinh học (năng suất) của gia cầm với sự gia tăng liều lượng bổ sung kẽm tăng cường. Thể trọng tăng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn được cải thiện đáng kể theo sự gia tăng liều lượng kẽm tăng cường (Hình 1). Phân tích hồi quy tuyến tính (regression linear) ước tính có cải thiện 1 điểm trong FCR cho mỗi 10 ppm kẽm tăng cường được bổ sung trong thức ăn vật nuôi, bắt đầu từ 50 ppm kẽm bổ sung. Sự cải thiện năng suất này đạt được nhờ vào sự cân bằng hệ vi sinh tại hồi tràng được duy trì tốt hơn (p <0,05) (Hình 2).
Ngoài độ khả dụng sinh học ta có thể mong đợi gì khác từ kẽm tăng cường?
Các giai đoạn nuôi khởi đầu (Starter) thực sự rất quan trọng trong chăn nuôi, sản xuất gà thịt. Khi nói đến sức khỏe đường ruột, có rất nhiều chiến lược dinh dưỡng có thể áp dụng được. Tuy nhiên, một số phụ gia thức ăn chăn nuôi có trong công thức thức ăn chăn nuôi đôi khi có thể mang lại tác dụng kép.

Đây là kết quả của một thử nghiệm lớn gần đây ở Pháp áp dụng trên 4.320 con gà thịt giống Ross, trong đó chúng được cho ăn trong 35 ngày với các nguồn kẽm khác nhau.
Một nhóm thử nghiệm được dùng liều 70ppm kẽm từ các sản phẩm kẽm sunfat (sulfates), hai nhóm thử nghiệm dùng kẽm tăng cường (HiZox®) ở 2 liều lượng khác nhau là 70ppm hoặc 35ppm và nhóm thử nghiệm cuối được bổ sung 35ppm dạng chelate kẽm của axít amin. Các nhóm kẽm dạng sunfate, chelate của axít amin và dạng tăng cường đều có độ sinh khả dụng tốt. Tuy nhiên, chỉ có nguồn kẽm tăng cường có thể tăng cường khả năng kiểm soát hệ vi sinh đường ruột trong 18 ngày thử nghiệm, làm giảm đáng kể lượng E.Coli (khi phân tích số lượng vi khuẩn được đo từ que bông lấy dịch hậu môn của 28 con gà thịt của mỗi nhóm thử nghiệm). Nhờ vậy, kẽm tăng cường giúp vật nuôi tăng trọng và có FCR tốt hơn.

Một thế hệ nguồn kẽm hoạt tính & tăng cường mới
Trong suốt 2 thập niên trước, ngành công nghiệp chăn nuôi sản xuất tập trung chủ yếu vào việc nâng cao độ sinh khả dụng của các khoáng vi lượng (vi khoáng), nhưng có một giới hạn nhất định đã hạn chế tiềm năng của việc áp dụng các chất phụ gia dinh dưỡng này vào thực tế trang trại. Một thế hệ nguồn kẽm hoạt tính mới, vốn đã được sử dụng rộng rãi ở heo con và đang dần phổ biến rộng rãi trong ngành công nghiệp chăn nuôi sản xuất gia cầm. Chiến lược dinh dưỡng mới này kết hợp lợi ích kép từ tác dụng tiền – hấp thụ trên sự đa dạng của hệ vi sinh và tác dụng hậu – hấp thụ với độ sinh khả dụng cao.
Axel Minetto
Giám đốc Marketing & Sales, Animine
Mọi chi tiết xin liên hệ:
CÔNG TY TNHH MTV NUTRISPICES
Địa chỉ: Titan Tower, tầng 2, số 70 – 72 – 74 đường 37, phường An Phú, TP Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại: 028 6271 1906 | Email: info@nutrispices.com
Website: www.nutrispices.com
- nutrispices li>
- chăn nuôi gà thịt li>
- hệ vi sinh li> ul>
- Tri thức dân gian: Chọn, thuần dưỡng ngựa truyền thống của người Mông
- 3 chất gây nhiễm đe doạ sữa heo nái
- PEPTIDES kháng khuẩn: Phương tiện mới để chăn nuôi heo hiệu quả cao với thức ăn không dùng kháng sinh
- Bất cập thị trường thú cưng
- Tối ưu dinh dưỡng và sức khỏe đường ruột trong giai đoạn úm gà
- Lựa chọn TĂBS nguồn gốc châu Á hay phương Tây: Hãy là người tiêu dùng thông minh!
- 6 bệnh phổ biến nhất trên heo
- Tăng cường sức khỏe đường ruột gia cầm bằng xylanase mới: Một con đường bền vững dẫn đến giảm sử dụng kháng sinh
- Độ ổn định của khoáng vi lượng: Nguồn gốc có quan trọng không?
- Công bố báo cáo đánh giá tính an toàn vắc xin AVAC ASF LIVE đối với lợn giống
Tin mới nhất
T7,31/01/2026
- Quảng Ngãi đề xuất hỗ trợ 106 tỉ đồng sau khi hơn 92.000 con heo bị tiêu hủy
- Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, hoàn thiện chuỗi giá trị 4F
- Đến Thái Nguyên, lạc vào “thủ phủ” chăn nuôi ngựa
- Tri thức dân gian: Chọn, thuần dưỡng ngựa truyền thống của người Mông
- Nhập khẩu ngô năm 2025 giảm cả lượng và kim ngạch
- Hàng tuyển ‘gà tiến vua’ ở Hưng Yên đắt khách
- Nhiều thị trường sửa quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật
- 3 chất gây nhiễm đe doạ sữa heo nái
- Đề xuất tăng chế tài xử phạt và buộc tiêu hủy thức ăn chăn nuôi chứa chất cấm
- Bức tranh chăn nuôi Trung Quốc 2025 và chiến lược giai đoạn 2026 – 2030
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà





















Bình luận mới nhất