Tổng quan diễn biến dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2025 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 74.000 - 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 75.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 70.000 - 74.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 74.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 60.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 67.000 - 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi An Giang 67.000 đ/kg
    •  
  • Tổng quan diễn biến dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2025

    Bệnh Cúm gia cầm (CGC)

     

    Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 58 ổ dịch CGC tại 16 tỉnh, thành phố; số gia cầm chết, buộc tiêu hủy là 123.622 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024, số ổ dịch tăng hơn lần, số gia cầm tiêu hủy tăng hơn 9%.

     

    Kết quả tiêm phòng năm 2025: Cả nước có 30/34 tỉnh có báo cáo kết quả triển khai công tác tiêm phòng vắc xin CGC, số liều được tiêm là hơn 208 triệu liều (trong đó tỷ lệ tiêm đạt trên 70% gồm các tỉnh Vĩnh Long, Bắc Ninh, Phú Thọ, An Giang).

     

     Công tác giám sát dịch bệnh: (i) có 28 tỉnh, thành phố triển khai giám sát bệnh CGC với số mẫu xét nghiệm là 11.194 mẫu trong đó có 314 mẫu dương tính Cúm A (tỷ lệ là 2,81%); (ii) 20 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát sau tiêm phòng với vắc xin phòng bệnh CGC, địa phương thực hiện lấy 15.748 mẫu xét nghiệm, trong đó có 10.971 mẫu đã có kết quả xét nghiệm kết quả 9.244 mẫu có kháng thể (tỷ lệ 84,25%) và 8.870 mẫu đạt bảo hộ (tỷ lệ 80,85%); số mẫu còn lại đang chờ kết quả xét nghiệm.

     

    Kết quả phân tích giải trình tự gen: Vi rút CGC gây ra các ổ dịch trong năm 2025 thuộc chủng vi rút CGC A/H5N1 thuộc các clade 2.3.2.1c, 2.3.2.1e và 2.3.4.4b. Vi rút cúm CGC H5N1 2.3.4.4b tiếp tục lưu hành chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung; trong khi đó vi rút CGC H5N1 clade 2.3.2.1e tiếp tục lưu hành chủ yếu ở miền Nam nhưng cả 2 chủng đều có nguy cơ lây lan sang các vùng miền khác. Kết quả đánh giá thử nghiệm hiệu lực một số loại vắc xin phòng bệnh CGC chống lại các chủng vi rút CGC độc lực cao H5N1 thuộc clade 2.3.2.1e và 2.3.4.4b lưu hành năm 2024 – 2025 cho thấy: Các vắc xin thử nghiệm D7+rD8, Navet fluvac2 và Re-5 tạo đáp ứng miễn dịch với hiệu giá kháng thể trung bình đạt lần lượt 6.4 log2, 7.8 log2 và 7.7 log2 khi sử dụng cho gà với liệu trình 1 mũi lúc 3 tuần tuổi; các nhóm gà được tiêm vắc xin thử nghiệm tương ứng có tỷ lệ sống sót đạt 100% khi công cường độc với các chủng vi rút CGC H5N1 clade 2.3.2.1e và khi công cường độc với chủng vi rút CGC H5N1 clade 2.3.4.4b.

     

    Nhận thấy, nguy cơ bệnh CGC tái phát và lây lan diện rộng trong thời gian tới là rất cao vì: (i) Các ổ dịch CGC chủ yếu xảy ra tại hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ, chưa được tiêm phòng vắc xin CGC; (ii) Thời tiết thay đổi, số lượng gia cầm nuôi, việc vận chuyển giữa các địa phương tăng cao để phục vụ nhu cầu cuối năm; (iii) Việc giao thương buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm trong nước tăng mạnh vào các tháng cuối năm (dịp giáp Tết Nguyên đán) khiến việc quản lý gặp nhiều khó khăn, (iv) Một số chủng vi rút CGC (A/H7N9, A/H5N2) có nguy cơ xâm nhiễm vào Việt Nam thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc …..

     

    Bệnh Lở mồm long móng (LMLM)

    Từ đầu năm 2025 đến nay, cả nước xảy ra 19 ổ dịch thuộc 11 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 473 con, số gia súc chết và tiêu huỷ là 44 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024, số ổ dịch giảm 75%, số động vật tiêu huỷ bắt buộc giảm hơn 84%.

     

     Kết quả tiêm phòng năm 2025: cả nước 34/34 tỉnh thành phố triển khai tiêm phòng vắc xin LMLM, số liều vắc xin được tiêm là hơn 10,1 triệu liều, trong đó: có 04 tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh, Lai Châu, Sơn La đạt tỷ lệ tiêm phòng cao nhất (trên 50%), không có tỉnh nào đạt tỷ lệ tiêm phòng theo quy định trên 70%. – Công tác giám sát dịch bệnh: (i) có 18 tỉnh, thành phố triển khai giám sát bệnh LMLM với số mẫu xét nghiệm là 14.316 mẫu, trong đó có 5140 mẫu dương tính (tỷ lệ 35,9%); (ii) 18 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát sau tiêm phòng với vắc xin phòng bệnh LMLM, địa phương thực hiện lấy 9.046 mẫu xét nghiệm, trong đó có 7.005 mẫu đã có kết quả xét nghiệm kết quả 6.558 mẫu có kháng thể (tỷ lệ 93,62%); số mẫu còn lại đang chờ kết quả xét nghiệm.

     

    Kết quả phân tích giải trình tự gen: các mẫu vi rút LMLM được thu thập tại 07 tỉnh miền Bắc thu thập từ các ổ dịch LMLM năm 2025 (Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Sơn La và Hải Dương) cho thấy vi rút lưu hành là típ O và thuộc 2 dòng vi rút Mya-98 và Ind2001e. Dòng PanAsia từng xuất hiện năm 2024, không được phát hiện trong năm 2025. Hiện nay, bệnh LMLM vẫn rải rác xuất hiện trên trâu, bò và lợn tại các tỉnh miền Bắc, với sự đồng lưu hành của 2 dòng vi rút Mya-98 và Ind2002e.

    – Nhận định nguy cơ dịch bệnh LMLM tái phát và phát sinh là rất cao, do: (i) Một số địa phương chưa triển khai tiêm phòng triệt để vắc xin phòng bệnh LMLM cho đàn gia súc mới, đàn gia súc đã hết miễn dịch; (ii) Vi rút LMLM tồn tại lâu ngoài môi trường, đặc biệt ở các địa phương có ổ dịch cũ; đường lây truyền bệnh phức tạp và khó kiểm soát; (iii) Chăn nuôi hộ gia đình, nhỏ lẻ, mật độ rất cao, chưa áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, chăn nuôi an toàn sinh học; (iv) Sử dụng gia súc giống không rõ nguồn gốc;…

     

    Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP)

     Trong năm 2025, cả nước xảy ra 2.782 ổ dịch tại 34 tỉnh, thành phố; số lợn chết và tiêu hủy là 1.273.082 con lợn (tăng hơn 13 lần so với năm 2024), đỉnh dịch tập trung vào tháng 7-8 và chủ yếu xảy ra ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không đảm bảo điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học; đến nay dịch bệnh đang có xu hướng giảm rõ rệt.

     

     Kết quả tiêm phòng năm 2025: Theo báo cáo của các địa phương đã có 16 tỉnh, thành phố triển khai tiêm phòng vắc xin DTLCP với số vắc xin là hơn 630.516 liều.

     

    Công tác giám sát dịch bệnh: (i) Trong năm có 31/34 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát bệnh DTLCP với 37.294 mẫu trong đó 4.309 mẫu dương tính (tỷ lệ 11.55%); (ii) 05 tỉnh, thành phố (An Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tây Ninh) thực hiện giám sát sau tiêm phòng vắc xin DTLCP số mẫu thực hiện xét nghiệm 1.326 mẫu trong đó 1.146 mẫu đã có kết quả xét nghiệm với số mẫu có kháng thể là 1.104 mẫu (tỷ lệ 96,34%); số mẫu còn lại đang chờ kết quả xét nghiệm.

     

    Kết quả phân tích giải trình tự gen: Năm 2025, tổng số 407 mẫu vi rút DTLCP được giải trình tự gien và xác định chủng vi rút bằng phương pháp rRT/PCR. Kết quả cho thấy: 336/407 (chiếm hơn 82%) số mẫu thuộc chủng vi rút DTLCP tái tổ hợp giữa genotype I và genotype II tại 34/34 tỉnh, thành phố trên cả nước; 71/407 (chiếm hơn 18%) số mẫu thuộc chủng vi rút DTLCP genotype II tại 26/34 tỉnh, thành phố. Kết quả đánh giá hiệu lực vắc xin DTLCP với vi rút DTLCP tái tổ hợp genotype I/II trong thời gian theo dõi 21 ngày cho thấy: lợn tiêm vắc xin NAVET-ASFVAC có tỷ lệ sống sót là 40%, lợn tiêm vắc xin AVAC ASF LIVE có tỷ lệ sống sót là 40%, lợn tiêm vắc xin DACOVAC-ASF2 có tỷ lệ sống sót là 0%. Các vắc xin không có hoặc mất hiệu lực bảo hộ chống lại chủng vi rút DTLCP tái tổ hợp genotype I/II đang lưu hành phổ biến hiện nay.

     

     Nhận định nguy cơ bệnh DTLCP tái phát và lây lan diện rộng trong thời gian tới là rất cao vì:

     

    (i) Tổng đàn vật nuôi lớn nhưng chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ lệ cao, không đảm bảo được các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, an toàn dịch bệnh; không thực hiện tiêm phòng vắc xin DTLCP;

     

    (ii) Chính quyền và người chăn nuôi lợn tại một số địa phương nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng tính chất nguy hiểm của bệnh DTLCP, chưa tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, biện pháp phòng bệnh bằng vắc xin;

     

     (iii) Việc tổ chức chống dịch, tiêu hủy lợn bệnh và xử lý chất thải tại các ổ dịch gặp rất nhiều khó khăn, không có đủ lực lượng thú y, thiếu kinh phí mua hóa chất, vôi bột, …;

     

    (iv) Giết mổ nhỏ lẻ còn chiếm chủ yếu; việc kiểm soát buôn bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh không rõ nguồn gốc, xuất xứ còn chưa chặt chẽ; cũng như tình trạng không báo cáo theo đúng quy định còn diễn ra ở một số địa phương và người chăn nuôi;

     

     (v) Vắc xin DTLCP mới chỉ sử dụng được cho lợn thịt, chưa được người chăn nuôi sử dụng phổ biến; vắc xin DTLCP hiện tại chỉ hiệu quả với chủng vi rút DTLCP genotype II, không hiệu quả với chủng vi rút DTLCP tái tổ hợp (genotype I và genotype II);…

     

     Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC)

    Cả nước xảy ra 88 ổ dịch tại 12 tỉnh, thành phố; số trâu, bò mắc bệnh là 333 con, số chết và tiêu huỷ là 144 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024, số ổ dịch giảm gần 44%, số gia súc tiêu hủy giảm hơn 18%.

     

     Kết quả tiêm phòng năm 2025: đã có 26 tỉnh, thành phố triển khai tiêm phòng với hơn 1,9 triệu liều vắc xin VDNC được tiêm tương đương với số con trâu, bò được tiêm phòng; trong đó, có tỉnh Vĩnh Long và thành phố Hà Nội có tỷ lệ tiêm phòng đạt trên 80%, 06 tỉnh Cao Bằng, Khánh Hòa, Gia Lai, Sơn La, Quảng Trị, Lai Châu có tỷ lệ tiêm phòng đạt dưới 10%.

     

     Công tác giám sát dịch bệnh: (i) có 16/34 tỉnh, thành phố thực hiện giám sát bệnh VDNC, đã thực hiện xét nghiệm 1.756 mẫu trong đó 65 mẫu dương tính (tỷ lệ 3,7%); (ii) có 02 tỉnh Tây Ninh và Vĩnh Long thực hiện giám sát sau tiêm phòng đối với vắc xin VDNC tổng số mẫu xét nghiệm là 368 mẫu trong đó có 314 mẫu đã có kết quả với 314 mẫu có kháng thể (tỷ lệ 100%) 266 mẫu đạt bảo hộ (tỷ lệ 84,71%); còn 54 mẫu đang chờ kết quả xét nghiệm.

     

     Kết quả phân tích giải trình tự gen: Phân tích đoạn gien EEV glycoprotein LSDV126 của vi rút VDNC lưu hành tại Việt Nam cho thấy vi rút này thuộc chủng vi rút Neethling, giống 100% so với vi rút VDNC đã gây các ổ dịch tại Trung Quốc.

     

    Nhận định nguy cơ dịch bệnh VDNC có nguy cơ lây lan nhanh, phạm vi rộng là rất cao vì: (i) Một số địa phương chưa triển khai quyết liệt, đồng bộ, xử lý dứt điểm và tiêu hủy gia súc khi mới xuất hiện dịch bệnh; (ii) Đường truyền lây đa dạng, phức tạp, khó kiểm soát, đặc biệt lây lan thông qua các véc tơ truyền bệnh (ruồi, muỗi, ve, mòng hút máu, truyền bệnh,…), chăn thả trâu, bò trên các cánh đồng, bãi chăn thả chung còn khá phổ biến; (iii) Điều kiện các hộ chăn nuôi, nhất là tại các tỉnh miền núi còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn khi áp dụng các biện pháp phòng bệnh; giá trị kinh tế của trâu, bò là khá cao, do đó đã có tình trạng người chăn nuôi ở một số địa phương bán chạy, giết mổ gia súc bệnh; ….

     

     

     Bệnh Dại trên người

    Từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận 76 trường hợp tử vong do bệnh Dại tại 20 tỉnh, thành phố, giảm 13 trường hợp so với cùng kỳ năm 2024 (89 trường hợp). – Bệnh Dại trên động vật: Trong năm 2025, cả nước xảy ra 292 ca bệnh Dại thuộc 25 tỉnh, thành phố; số động vật tiêu huỷ bắt buộc là 375 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024, số ca bệnh Dại trên động vật giảm hơn 26%.

     

    Kết quả tiêm phòng năm 2025: Theo báo cáo của các địa phương trong năm 2025, đã có 29 tỉnh, thành phố triển khai tiêm phòng với gần 3,2 triệu liều vắc xin Dại động vật được tiêm.

     

    – Công tác giám sát dịch bệnh:

     

    (i) Trong năm có 17/34 tỉnh thành phố thực hiện giám sát bệnh Dại với tổng số mẫu xét nghiệm là 672 mẫu, trong đó có 78 mẫu dương tính với bệnh Dại (tỷ lệ là 11,61%);

     

    (ii) có 08 tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Đồng Nai, Huế, Lạng Sơn, Nghệ An, Tây Ninh, Thanh Hoá, Vĩnh Long thực hiện giám sát sau tiêm phòng với vắc xin phòng bệnh Dại, địa phương đã thực hiện lấy 2.092 mẫu xét nghiệm, trong đó có 2.038 mẫu có kháng thể (tỷ lệ 97,42%).

     

    * Nhận định nguy cơ bệnh Dại động vật tiếp tục xuất hiện trong thời gian tới là cao do: (i) Công tác quản lý đàn chó nuôi của nhiều địa phương chưa được thực hiện tốt; nhiều tỉnh chưa thống kê, không có báo cáo về số hộ nuôi chó, tổng đàn chó để phục vụ cho công tác tiêm phòng; (ii) Nhiều địa phương chưa quyết liệt trong việc triển khai tiêm phòng vắc xin cho đàn chó, mèo;; (iii) Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bệnh Dại chưa thường xuyên, liên tục nên chưa đạt hiệu quả cao; (iv) Nhiều địa phương chưa thấy sự vào cuộc thực sự của các cấp chính quyền trong công tác phòng, chống bệnh Dại; (v) Nhiều địa phương chưa bố trí kinh phí và nguồn lực cho phòng, chống bệnh Dại. e) Một số bệnh khác trên gia súc, gia cầm.

     

    Bệnh Tai xanh

     

    Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 01 ổ dịch bệnh Tai xanh tại tỉnh Bạc Liêu (nay là Cà Mau). Số lợn mắc bệnh là 01 con, số lợn tiêu huỷ là 01 con. Mặc dù các ổ dịch bệnh Tai xanh trong thời gian qua được kiểm soát tốt, tuy nhiên, thời tiết diễn biến phức tạp gây bất lợi cho sức khỏe vật nuôi, là điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh (đang tồn tại trong môi trường và trên một số đàn vật nuôi) có thể gây bùng phát dịch.

     

    Bệnh Dịch tả gia súc nhỏ loài nhai lại (PPR):

     

    Đây là bệnh mới xâm nhiễm vào trong nước tại các tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Nghệ An, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đồng Nai; bệnh xuất hiện nhỏ lẻ, rải rác trên một số đàn dê nuôi tại 1-2 xã trong tỉnh và đã được địa phương xử lý gọn. Cục đã báo cáo Bộ và ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các biện pháp phòng, chống và xử lý dịch bệnh; đồng thời tổ chức các Đoàn công tác xuống địa phương lấy mẫu xét nghiệm; gửi mẫu đi giải trình tự, phân tích chuyên sâu, tăng cường hợp tác quốc tế trong việc xin hỗ trợ vắc xin và các giải pháp kỹ thuật phòng, chống bệnh.

     

     Các dịch bệnh khác trên gia súc, gia cầm như: Dịch tả lợn cổ điển, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Đóng dấu lợn, Niu-cát-xơn, Gumboro,… được phát hiện và kiểm soát tốt, không gây thành dịch lớn. Hiện nay, đã có các loại vắc xin để phòng những bệnh này có hiệu quả; nhiều loại vắc xin được sản xuất trong nước.

     

    Nguồn: Trích từ tài liệu của Cục Chăn nuôi và Thú y, tháng 1/2026.

     

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.