Hàm lượng canxi và photpho phù hợp trong khẩu phần là rất cần thiết đối với năng suất lợn con. Công thức cân đối chính xác canxi và phốt pho trở nên quan trọng hơn trong những năm gần đây với việc tăng sử dụng phytase và mong muốn làm giảm bài tiết photpho.
Các nghiên cứu gần đây của Đại học Illinois đã cho thấy việc cho ăn dư thừa canxi trong khẩu phần làm giảm khả năng tiêu hoá phốt pho, và do đó làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn con và lợn choai-vỗ béo. Trong thực tiễn, khẩu phần bị dư Ca có thể vì nhiều lý do, bao gồm sai số phân tích các thành phần nguyên liệu của phòng thí nghiệm, bỏ qua hàm lượng canxi trong thành phần chất mang (chất độn), và không tính đến lượng canxi được phytase giải phóng.
Trong khi đó, khẩu phần cũng có thể thiếu phốt pho do sai sót về công thức, bởi vì phytase không được đưa vào theo đúng mức dự kiến trong khẩu phần ăn, do đánh giá quá cao lượng phốt pho phóng ra từ một lượng phytase nhất định trong khẩu phần hoặc do đánh giá thấp nhu cầu của lợn con.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để đánh giá hiệu quả tăng trưởng và hàm lượng tro trong xương của heo con để đáp ứng với các tổ hợp khác nhau giửa lượng phốt pho và canxi trong khẩu phần cung cấp bởi các nguồn vô cơ hoặc phytase.
Trong thử nghiệm này, 720 con lợn con ban đầu có trọng lượng cơ thể 13,4 pound được xếp vào một trong sáu nghiệm thức về khẩu phần, nghiên cứu trong 42 ngày. Các nghiệm thức được bố trí theo thiết kế 2×3 yếu tố với hai cấp độ canxi (0.58 so với 1.03%) và 3 mức phốt pho tiêu hoá tiêu chuẩn (STTD P, 0.33% không có phytase, 0.45% không có phytase, hoặc 0.45% có tính đến lượng do phytase giải phóng là 0,12%).
Khẩu phần có 0,33% STTD P là thấp hơn 27% so với nhu cầu, trong khi đó khẩu phần có 0,45% STTD P là vừa đủ theo yêu cầu của lợn.
Khẩu phần thí nghiệm được cung cấp từ ngày 0 đến ngày 28, và một khẩu phần chung cho tất cả lợn được cho ăn sau đó từ ngày 28 đến ngày thứ 42 của nghiên cứu.
Sự tương tác giữa các nghiệm thức calcium và phosphorus đã được quan sát thấy (P <0,05). Từ ngày 0 đến ngày 28, khi chế độ ăn có hàm lượng canxi thấp, lợn ăn 0,45% STTD P với phytase có mức tăng trung bình hàng ngày và lượng thức ăn trung bình hàng ngày cao hơn (P <0,01) so với những nhóm ăn STTD P 0,45% không có phytase và nhóm ăn 0,33% STTD P; Trong khi với khẩu phần Ca cao ADG và ADFI tương tự nhau ở lợn ăn 0,45% STTD P có hoặc không có phytase nhưng cao hơn nhóm ăn STTD P 0,33% (tương tác Ca X P, P <0,05).
Hiệu quả của thức ăn bị suy giảm (P <0,01) khi STTD P thấp và lượng canxi cao được thêm vào khẩu phần ăn so với các khẩu phần ăn khác. Từ ngày 28 đến ngày thứ 42 với khẩu phần ăn giống nhau, lợn trước đó ăn STTD 0,33% có ADG tương tự, nhưng giảm ADFI (P <0,05) và hiệu quả thức ăn/tăng trọng được cải thiện so với lợn ăn 0,45% STTD P có hoặc không có phytase. Tuy nhiên, lợn ăn STTD P 0,33% với khẩu phần canxi cao không thể bù đắp đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của việc thiếu phốt pho dẫn đến giảm ADG và ADFI (P <0,05) so với lợn ăn khẩu phần STTD P 0,45% có hoặc không có phytase.
Để đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng canxi và photpho đối với quá trình khoáng hoá xương, chúng tôi cũng xác định nồng độ tro trong xương mác, lấy mẫu 1 lợn/chuồng. Lợn ăn 0,33% STTD P đã giảm nồng độ tro xương (P <0,05) so với những người ăn STTD P 0,45% có hoặc không có phytase khi bổ sung canxi cao vào khẩu phần ăn, nhưng hiệu quả phosphorus này không được quan sát thấy khi chế độ ăn có nồng độ canxi thấp ( Tương tác Ca X P, P = 0.007).
Kết luận rằng lượng canxi dư thừa trong khẩu phần ăn làm giảm tăng trưởng và khoáng hoá xương của lợn con khi khẩu phần ăn thiếu STTD P. Thêm phytase để đạt được khẩu phần STTD P 0,45% cải thiện ADG và ADF của lợn so với khẩu phần có chứa STTD P 0,45% không có phytase, điều này cho thấy đâu đó tiềm ẩn khả năng đánh giá thấp mức độ phóng thích phốt pho của phytase hoặc tính khả dụng của các chất dinh dưỡng khác được giải phóng bởi phytase.
Biên dịch: Acare VN Team (theo NationalHogFarmer)
Nguồn tin: AcareVietnam
- Quản lý 6 cặp khoáng đối kháng trong thức ăn chăn nuôi
- Tỷ lệ canxi : Phốt pho trong dinh dưỡng động vật quan trọng thế nào? Các yếu tố ảnh hưởng.
- Chất xơ trong thức ăn gia cầm: Lợi ích và những rủi ro cần lưu ý
- Quản lý giống heo và chiến lược chọn lọc heo giống (Kỳ I)
- Dự báo thị trường thức ăn chăn nuôi toàn cầu năm 2025
- Cúm gia cầm: Các phương pháp phòng ngừa và kiểm soát tại các trang trại gia cầm
- Tác động của các loại khoáng trong nước
- Nhu cầu dinh dưỡng tối ưu của vịt đẻ trứng
- Biện pháp dinh dưỡng ngăn ngừa bệnh lỵ ở heo con
- Các chuyên gia giới hạn nguyên liệu trong công thức như thế nào: phương pháp và nguyên tắc
Tin mới nhất
T7,05/04/2025
- Quản lý 6 cặp khoáng đối kháng trong thức ăn chăn nuôi
- ‘Ông trùm’ chồn hương khởi nghiệp từ 80 con giống
- Tiêu thụ thịt của Đức năm 2024 tăng nhẹ
- Ngành chăn nuôi ứng biến kịp thời trước những thay đổi của thị trường
- Xuất khẩu thịt bò của New Zealand tháng 2/2025 tăng 18,2%
- Diễn biến giá thịt lợn quý I/2025 tăng sớm và tăng nhanh
- Năm 2025 gạo, thịt gia cầm, trứng gia cầm bình ổn thị trường giảm 1.000-2.000 đồng
- Mỹ trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 của Đồng Nai
- Ông Trump ký sắc lệnh áp thuế đối ứng với hàng chục nền kinh tế
- Chẩn đoán sức khỏe đường ruột nhanh chóng với công nghệ tiên tiến từ Orffa & Florates
- Chẩn đoán sức khỏe đường ruột nhanh chóng với công nghệ tiên tiến từ Orffa & Florates
- VIV ASIA 2025: Giao thoa công nghệ và cơ hội đưa ngành chăn nuôi Việt Nam vươn tầm quốc tế
- Tannin thủy phân: Giải pháp hoàn hảo cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh
- Biogénesis Bagó: Tăng tốc tại thị trường châu Á thông qua việc thiết lập văn phòng khu vực tại Việt Nam
- Hiệu quả từ nuôi vịt xiêm trên sàn lưới
- 147 nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi hàng đầu thế giới năm 2023: New Hope chiếm giữ vị trí số 1
- Một số ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi
- Nghiên cứu mới giúp gà thả vườn tăng cân, giảm nhiễm bệnh
- Hiệu quả liên kết chăn nuôi gia cầm theo hình thức gia công
- Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc heo thịt
Bình luận mới nhất