Chế biến sâu – Chìa khóa nâng giá trị xuất khẩu của ngành chăn nuôi - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Chế biến sâu – Chìa khóa nâng giá trị xuất khẩu của ngành chăn nuôi

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn điều chỉnh chiến lược quan trọng của ngành chăn nuôi Việt Nam khi hoạt động xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong điều kiện kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, chi phí logistics biến động và xu hướng bảo hộ kỹ thuật gia tăng.

     

    Theo lãnh đạo Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ NN&MT), năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt khoảng 628 triệu USD, tăng 17,4% so với năm 2024 và vượt kế hoạch đề ra. Trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu siết chặt quy định về kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc và dư lượng kháng sinh, mức tăng trưởng này cho thấy năng lực quản trị chuỗi và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện đáng kể.

     

    Ảnh minh họa- Nguồn: VGP/Thiện Tâm.

     

    Cơ cấu xuất khẩu dịch chuyển theo hướng chất lượng

     

    Nhóm sản phẩm từ heo tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu. Bên cạnh thịt đông lạnh, phân khúc con giống chất lượng cao đang dần khẳng định vị thế. Tính đến cuối tháng 12/2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1.400 con heo giống sang Lào và Campuchia với giá trị gần 920.000 USD. Dù sản lượng không lớn, nhưng giá trị gia tăng cao phản ánh hiệu quả của công tác chọn lọc, nhân giống và kiểm soát dịch bệnh.

     

    Xuất khẩu thịt heo, heo sữa và heo choai đông lạnh đạt trên 620.000 con, tương đương 63,5 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳ. Nhóm gia súc lớn như trâu, bò sống đạt kim ngạch trên 37,2 triệu USD, mở ra tiềm năng khai thác thị trường khu vực Nam Á và Trung Đông trong thời gian tới.

     

    Ở lĩnh vực gia cầm, xuất khẩu gà giống đạt trên 14 triệu con, tăng hơn 138%, cho thấy lợi thế về công nghệ ấp nở, hệ thống ATSH và năng lực kiểm soát dịch cúm gia cầm. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu trứng gia cầm giảm còn khoảng 1,4 triệu USD do chi phí vận chuyển cao và cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực.

     

    Đáng chú ý, TĂCN và nguyên liệu tiếp tục là phân khúc tăng trưởng mạnh, đạt khoảng 1,6 tỷ USD, tăng 45%. Đây là nhóm hàng có hàm lượng công nghiệp chế biến cao, tiêu chuẩn kỹ thuật ổn định và đóng vai trò quan trọng trong cân bằng cán cân thương mại nông nghiệp.

     

    Chuyển từ “xuất thô” sang “xuất tinh”

     

    Song song với quá trình nâng cao năng lực sản xuất, năm 2025 cũng ghi nhận nhiều bước tiến quan trọng trong công tác mở cửa thị trường và hoàn thiện khung pháp lý cho xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu.

     

    Trong cơ cấu thị trường hiện nay, châu Á vẫn là khu vực tiêu thụ chính đối với sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam. Các thị trường như Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Malaysia duy trì nhu cầu ổn định đối với nhiều nhóm sản phẩm như thịt lợn đông lạnh, heo sữa, heo choai, gà chế biến và con giống gia cầm. Ngoài ra, khu vực Trung Đông và Nam Á cũng được đánh giá là những thị trường tiềm năng đối với các sản phẩm thịt gia súc và gia cầm trong thời gian tới.

     

    Đáng chú ý, Trung Quốc tiếp tục là thị trường có ý nghĩa chiến lược đối với nhiều mặt hàng nông sản và sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam. Việc nâng cấp Bản ghi nhớ năm 2016 về xuất khẩu cám gạo lên Nghị định thư chính thức đã tạo hành lang pháp lý ổn định cho hoạt động thương mại giữa hai nước. Hiện, đã có 12 doanh nghiệp Việt Nam được cấp mã số xuất khẩu, với sản lượng bình quân khoảng 100.000 tấn/tháng.v

     

    Bên cạnh đó, việc ký kết Nghị định thư xuất khẩu tổ yến sang Trung Quốc cũng mở ra cơ hội lớn cho ngành yến Việt Nam. Đến nay, đã có 15 doanh nghiệp được phê duyệt đủ điều kiện xuất khẩu, đánh dấu bước tiến trong chuẩn hóa quy trình thu hoạch, sơ chế và truy xuất nguồn gốc, những yêu cầu bắt buộc để tiếp cận thị trường có quy mô tiêu thụ lớn nhất thế giới.

     

    Ở lĩnh vực gia cầm, Việt Nam đã từng bước thâm nhập các thị trường có tiêu chuẩn cao. Sản phẩm thịt gà chế biến của Việt Nam hiện đã được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hồng Kông và một số thị trường châu Á. Từ tháng 5/2025, Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường thịt gia cầm chế biến, đồng thời hoàn tất các thủ tục kỹ thuật với Hàn Quốc và đang xúc tiến đàm phán với Singapore và Trung Quốc.

     

    Đối với con giống gia súc và gia cầm, các thị trường lân cận như Lào và Campuchia vẫn đóng vai trò quan trọng nhờ lợi thế địa lý và chi phí vận chuyển thấp. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, ngành chăn nuôi Việt Nam đang hướng tới mở rộng sang các thị trường có giá trị cao hơn như Trung Đông và châu Phi, nơi nhu cầu về nguồn cung giống chất lượng đang gia tăng.

     

    Theo các chuyên gia, việc mở rộng thị trường xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn gắn chặt với khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn SPS (vệ sinh và kiểm dịch động thực vật), hệ thống kiểm soát dịch bệnh vùng an toàn và quy trình truy xuất nguồn gốc. Đây là những điều kiện bắt buộc đối với các sản phẩm thịt và thực phẩm có nguồn gốc động vật khi tham gia thị trường quốc tế.

     

    Ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng, “Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, việc mở cửa thị trường không chỉ là kết quả của đàm phán ngoại giao mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức sản xuất của ngành. Khi vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh được mở rộng và hệ thống giết mổ, chế biến đạt chuẩn quốc tế, cơ hội xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam sẽ rộng mở hơn”.

     

    Các chuyên gia cũng nhận định, trong giai đoạn tới, chiến lược xuất khẩu của ngành chăn nuôi cần chuyển từ mở rộng số lượng thị trường sang nâng cao chất lượng thị trường, ưu tiên các quốc gia có sức mua lớn và yêu cầu tiêu chuẩn cao. Đây là hướng đi giúp sản phẩm chăn nuôi Việt Nam không chỉ gia tăng kim ngạch mà còn nâng cao vị thế trên thị trường thực phẩm toàn cầu.

     

    Điểm nghẽn: Chế biến sâu và chuỗi lạnh

     

    Dù đạt kết quả tích cực, ngành chăn nuôi vẫn đối diện hạn chế về tỷ lệ chế biến sâu. Cả nước hiện có khoảng 108 cơ sở, nhà máy chế biến thịt và trứng quy mô công nghiệp, song phần lớn được đầu tư từ hơn một thập kỷ trước. Tỷ lệ sản phẩm sơ chế vẫn chiếm 80-85% sản lượng; nhóm sản phẩm chế biến giá trị cao như giăm bông, xúc xích, thịt hun khói chỉ chiếm khoảng 15-20%. Thịt mát đóng gói mới chiếm khoảng 10% tổng sản lượng.

     

    Hạ tầng chuỗi lạnh chưa đồng bộ, chi phí logistics cao và sự phân tán trong tổ chức sản xuất khiến giá thành sản phẩm xuất khẩu còn kém cạnh tranh. Bên cạnh đó, mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn tồn tại ở nhiều địa phương, gây khó khăn cho việc kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc.

     

    Các chuyên gia nhận định, nếu không đẩy mạnh tự động hóa, số hóa quản lý đàn và đầu tư công nghệ bảo quản sau giết mổ, ngành khó có thể nâng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm giá trị cao. Chuyển dịch từ “xuất thô” sang “xuất tinh” là yêu cầu mang tính cấu trúc, không chỉ nhằm tăng giá trị mà còn để giảm rủi ro phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu.

     

    Doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu

     

    Trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành đã bắt đầu đầu tư mạnh vào chuỗi chế biến sâu và hệ sinh thái thực phẩm khép kín.

     

    Trong lĩnh vực thịt lợn, Masan MEATLife đang phát triển chuỗi sản xuất thịt mát MEATDeli với các nhà máy chế biến hiện đại tại Hà Nam và Long An. Ngoài thịt mát, doanh nghiệp đã mở rộng sang các sản phẩm chế biến như xúc xích, thịt xông khói và thực phẩm tiện lợi.

     

    C.P. Việt Nam cũng tiếp tục mở rộng hệ thống giết mổ và chế biến tại nhiều địa phương, phát triển danh mục sản phẩm đa dạng từ thịt lợn và gia cầm. Nhờ chuỗi sản xuất khép kín từ con giống, thức ăn chăn nuôi đến chế biến và phân phối, doanh nghiệp có lợi thế lớn trong việc kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

     

    Ở khối doanh nghiệp trong nước, Tập đoàn Dabaco, BaF Việt Nam và GreenFeed đang từng bước hoàn thiện mô hình chăn nuôi – giết mổ – chế biến khép kín, hướng tới phát triển các thương hiệu thịt sạch và thực phẩm chế biến phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong khi đó, Tập đoàn Mavin đầu tư mạnh vào chuỗi giá trị thịt với các nhà máy chế biến hiện đại tại miền Bắc, tập trung vào các sản phẩm thịt chế biến và thực phẩm tiện lợi.

     

    Ở phân khúc gia cầm, các doanh nghiệp FDI như Japfa, CJ Foods hay De Heus cũng đang đầu tư vào hệ thống chăn nuôi và chế biến theo tiêu chuẩn quốc tế, phục vụ xuất khẩu sang Nhật Bản và các thị trường châu Á.

     

    Đáng chú ý, Tập đoàn TH – vốn nổi tiếng trong lĩnh vực sữa cũng đang mở rộng đầu tư vào chăn nuôi và chế biến thực phẩm, hướng tới xây dựng chuỗi sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với chế biến sâu.

     

    Theo các chuyên gia, sự tham gia của các doanh nghiệp lớn với năng lực tài chính và công nghệ mạnh sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa ngành chế biến thịt tại Việt Nam. Theo định hướng phát triển ngành, kim ngạch xuất khẩu chăn nuôi phấn đấu đạt 3-4 tỷ USD vào năm 2030.

     

    Để đạt mục tiêu này, ngành cần đồng thời thực hiện ba nhóm giải pháp:

     

    Thứ nhất, nâng tỷ lệ giết mổ tập trung công nghiệp lên 70% đối với gia súc và 50% đối với gia cầm; giảm dần cơ sở nhỏ lẻ không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y.

     

    Thứ hai, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến lên 40-50% tổng sản lượng thịt; phát triển sản phẩm có thương hiệu, bao bì và tiêu chuẩn phù hợp thị trường cao cấp.

     

    Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong chăn nuôi, giảm phát thải khí nhà kính, tái sử dụng phụ phẩm và áp dụng kinh tế tuần hoàn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của EU và các thị trường phát triển.

     

    Bước sang năm 2026, ngành chăn nuôi Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu. Xuất khẩu không chỉ là câu chuyện sản lượng mà là năng lực quản trị chuỗi, tiêu chuẩn hóa và đổi mới công nghệ. Khi hệ sinh thái từ trang trại – giết mổ – chế biến – logistics được tổ chức đồng bộ, sản phẩm chăn nuôi Việt Nam mới có thể gia tăng thị phần bền vững trên thị trường quốc tế và đóng góp thiết thực vào mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp.

     

    T.H

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Hoàng văn hùng
  • Giá lợn hơi hôm nay

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.