Bột đậu nành có nguồn gốc khác nhau không giống nhau vì giá trị dinh dưỡng của nó phụ thuộc vào nước xuất xứ.
Hàm lượng protein thô đã và đang là khía cạnh quan trọng nhất trong việc kiểm soát chất lượng đối với bột đậu nành. Tuy nhiên, bột đậu nành là một mặt hàng quốc tế, và mặc dù được sử dụng trên toàn thế giới, nó chỉ được xuất khẩu bởi một số ít các quốc gia. Sau đó, tập trung vào những nhà xuất khẩu chính để điều tra xem liệu các điều kiện chế biến của họ chỉ có ảnh hưởng đến hàm lượng protein hay còn về chất lượng protein, điều này cũng quan trọng không kém.
Ảnh minh họa
Trong một nghiên cứu gần đây được xuất bản trong tạp chí Khoa học gia cầm, thành phần dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa của axit amin (AA), và năng lượng trao đổi biểu kiến đối với gia cầm (AME) của 55 mẫu bột đậu nành có nguồn gốc khác nhau đã được đánh giá: từ Hoa Kỳ (US, n = 16 ), Argentina (ARG, n = 16), Braxin (BRA, n = 10) và Ấn Độ (IND; n = 13). Các mẫu được thu thập từ các nhà máy thương mại ở Đông Nam Á, và chúng được so sánh bằng các phân tích trong phòng thí nghiệm và các nghiên cứu trên động vật.
Có khác biệt đáng kể (P <0,05 đến 0,001) do nguồn gốc sản phẩm về protein thô (CP), chất béo, tro, chất xơ và các thành phần polysaccharide phi tinh bột (NSP) của SBM. Hàm lượng CP trung bình của các mẫu từ Mỹ, ARG, BRA, và IND được xác định là 47,3, 46,9, 48,2 và 46,4 phần trăm (so với KL nguyên liệu), tương ứng. Trong các mẫu của Hoa Kỳ chất xơ thô và hàm lượng NSP thấp hơn (P <0,05) và hàm lượng sucrose cao hơn (P <0,05) so với SBM từ các nguồn gốc khác. Các mẫu IND có hàm lượng chất xơ, tro và NSP cao nhất (P <0,05) và hàm lượng chất béo và sucrose thấp nhất (P <0,05). Sự khác biệt (P <0,0001) cũng đã được quan sát thấy bằng các biện pháp in vitro ở các mẫu có xuất sứ khác nhau về chất lượng protein (index urease, KOH protein hòa tan, và hoạt động ức chế trypsin). Sự khác biệt đáng kể (P <0.001) về hàm lượng khoáng cũng được tìm thấy từ các mẫu có nguồn gốc khác nhau. Khô đậu tương từ Mỹ và IND có hàm lượng canxi cao hơn (P <0,05) (0,45 phần trăm) so với những mẫu từ ARG và BRA (0,28-0,31%). Hàm lượng phốt pho và kali thấp nhất (P <0,05) ở SBM từ IND, và không có sự khác biệt (P> 0,05) trong SBM từ các nguồn gốc khác. Hàm lượng sắt rõ ràng là cao (928 mg / kg) trong SBM từ IND so với các nguồn gốc khác (103-134 mg/kg).
Sự khác biệt chủ yếu liên quan đến nguồn gốc (P <0.0001) được ghi nhận trong AME của SBM. Mật độ AME trung bình của các mẫu từ Mỹ, ARG, BRA và IND tương ứng là 2,375, 2,227, 2,317 và 2,000 kcal / kg. Tổng lượng AA của các mẫu Hoa Kỳ, ARG, BRA, và IND tương tự nhau (P> 0,05) đối với 9 trong số 17 axit amin. Các khác biệt chính (P <0,05 đến P <0,001) do nguồn gốc được xác định cho tiêu hóa của tất cả các AA. Các mẫu IND có tỷ lệ tiêu hóa thấp nhất (P <0,05) và không có sự khác biệt (P> 0,05) giữa các mẫu từ 3 nguồn gốc khác. Tuy nhiên, hàm lượng CP tiêu hóa của SBM của Hoa Kỳ cao hơn P <0,05 so với ARG và IND, nhưng tương tự (P> 0,05) so với BRA. Hàm lượng CP tiêu hóa được của SBM từ Mỹ, ARG, BRA, và IND lần lượt là 40,0, 38,6, 39,8 và 36,7 phần trăm. Hàm lượng của AA thiết yếu tiêu hóa được, nói chung, theo xu hướng giống như CP tiêu hóa được.
Kết luận: Đánh giá hiện tại cho thấy có sự khác biệt lớn về giá trị dinh dưỡng giữa SBM từ các nguồn gốc khác nhau về hàm lượng chất dinh dưỡng, AME và AA tiêu hóa.
Biên dịch: Ecovet Team (theo WattAgnet)
Nguồn tin: Ecovet
- nguyên liệu tacn li>
- khô đậu tương li>
- giá nguyên liệu li>
- đậu nành li> ul>
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- An toàn sinh học chống ASF
- Đánh giá hiệu quả bảo hộ vaccine AVAC ASF LIVE trước biến chủng genotype I/II
- 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chủng ngừa vắc xin cho gà thịt
- Kiểm soát tiểu khí hậu và phúc lợi trong nuôi vịt hiện đại: Hướng dẫn thực tiễn và bằng chứng khoa học
- 4 nguồn chất xơ tự nhiên cho heo, gia cầm, bò sữa
- Tương lai của việc kiểm soát bệnh cầu trùng
- Quy trình phòng hội chứng EDS-76 trên chim cút đẻ trứng hiệu quả từ ứng dụng bộ sản phẩm SADOVA
Tin mới nhất
T7,10/01/2026
- TP Huế phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững
- Giá lợn tăng cao, người chăn nuôi phấn khởi
- Thị trường nông sản: Algeria nhập khẩu hơn 1 triệu tấn ngô để ổn định nguồn cung
- Ưu tiên phát triển chăn nuôi theo chuỗi khép kín
- TP. Hồ Chí Minh triển khai 8 nhiệm vụ trọng tâm phòng, chống dịch bệnh động vật năm 2026
- BAF Việt Nam khẳng định vị thế trong Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2025
- Đồng Nai đặt mục tiêu 100% cơ sở chăn nuôi tập trung xử lý chất thải đạt chuẩn
- Trung Quốc: Ngành gà thịt lông trắng trước ngưỡng tái cơ cấu năm 2026
- Giá heo hơi hôm nay 9-1: Tiếp tục tăng, chạm mức 71.000 đồng/kg
- Phát triển kinh tế từ mô hình nuôi lợn đen của người Mông
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà






















Bình luận mới nhất