Một kỹ thuật mới theo dõi sự di chuyển của gà nuôi có thể được sử dụng để dự đoán những đàn có nguy cơ bị nhiễm Campylobacter – một loại vi khuẩn phổ biến nhất gây ngộ độc thực phẩm tại Anh.
Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Oxford đã cho thấy rằng, bằng cách sử dụng một hệ thống camera để phân tích, các đàn gà có nguy cơ nhiễm khuẩn có thể được phát hiện khi những con gà từ 7 đến 10 ngày tuổi, sớm hơn nhiều so với thời gian thông thường lấy mẫu kiểm tra tại trang trại.
Bất chấp những nỗ lực để cải thiện an toàn sinh học, con người gặp rất nhiều khó khăn để loại bỏ Campylobacter ra khỏi các chuỗi thức ăn. Đây là vi khuẩn có thể tiếp cận con người qua thịt gà sống hoặc nấu chưa chín. Hệ thống cảnh báo sớm mới này có khả năng thay đối cách kiểm soát Campylobacter, mang lại lợi ích cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Tiến sĩ Frances Colles từ Khoa Động vật học của Đại học Oxford, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Con người tiêu thụ gần 60 tỷ con gà một năm – nhiều hơn bất kỳ động vật nào khác. Hiện tại, vi khuẩn Campylobacter đã gây nên tình trạng ngộ độc thực phẩm trên toàn thế giới. Người ta ước tính rằng có đến 80% nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ thịt gà bị nhiễm bẩn”.
Mặc dù có rất nhiều nỗ lực để cải thiện thực hành an toàn sinh học tại các trang trại trong thập kỷ qua, có hơn 70% số gà thịt ở EU vẫn dương tính với vi khuẩn Campylobacter khi được giết mổ trong năm 2008 và tỷ lệ ngộ độc thực phẩm của con người vẫn tiếp tục không suy giảm. Điều này cho thấy rằng ô nhiễm môi trường trong quá trình gà thịt phát triển có thể không phải là nguyên nhân duy nhất gây nên tình trạng nhiễm Campylobacter ở gà.
Nhóm nghiên cứu Oxford thử nghiệm giả thuyết rằng có thể nhận biết các đàn gà nhiễm Campylobacter thông qua hành vi của chúng. Giáo sư Marian Dawkins, giáo sư về hành vi động vật tại Đại học Oxford và là đồng tác giả nghiên cứu nói: “Chúng tôi đã sử dụng một phương pháp mới lạ và không xâm lấn nhằm giám sát hành vi của gà và phân tích các mô hình dòng chảy quang từ camera bên trong chuồng nuôi gà thịt”.
Dòng quang học hoạt động bằng cách phát hiện các mô hình được hình thành bởi những thay đổi về độ sáng trong hình ảnh chuyển động cả về thời gian và không gian. Đây là phương pháp tính toán đơn giản và không cần gắn thẻ hoặc đánh dấu cá thể động vật. Đây là phương pháp lý tưởng cho việc giám sát liên tục lâu dài các nhóm vật nuôi số lượng lớn như gà mái đẻ trứng và gà thịt, nơi các dòng chảy quang học giúp tiên đoán các tình trạng quan trọng như tỷ lệ tử vong.
Để kiểm tra giả thuyết rằng việc phân tích dòng chảy quang học cũng có thể phát hiện thời điểm đàn gia cầm bị nhiễm Campylobacter, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của 31 đàn gà thịt thương mại. Họ cũng thu thập mẫu phân từ những đàn giống và thử nghiệm chúng xem có sự hiện diện của Campylobacter ở các lứa tuổi khác nhau hay không (21 ngày, 28 ngày và 35 ngày) thông qua việc sử dụng các phương pháp thí nghiệm tiêu chuẩn. Điều này đã đưa ra một so sánh trực tiếp giữa dòng quang học và thử nghiệm các mẫu phân.
Các đàn gà dương tính với Campylobacter có dòng chảy quang học ở mức thấp hơn trung bình (chuyển động trung bình ít hơn) và chuyển động không đều so với các đàn không nhiễm khuẩn. Điều này hoàn toàn độc lập với nhiệt độ bên ngoài. Phương pháp này giúp phát hiện đàn gà bị nhiễm khuẩn từ giai đoạn 10 ngày tuổi.
Việc sử dụng thông tin lưu lượng quang học này có tiềm năng tạo ra một tác động lớn đến việc quản lý đàn gà thương mại. Người quản lý trang trại có thể truy cập thông tin đó trong thời gian thực và sẽ nhận được cảnh báo sớm về nguy cơ sức khỏe của đàn gà, cho phép họ can thiệp trước khi tình trạng nhiễm khuẩn trở nên nghiêm trọng và hỗ trợ họ sản xuất thực phẩm chất lượng cao hơn.
Biên dịch: Lê Hồng Vân (Theo phys.org)
Nguồn: Bộ NN&PTNT
- ngăn ngừa ngộ độc li>
- ngộ độc thực phẩm li>
- chăn nuôi gà li>
- hành vi của gà nuôi li> ul>
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- An toàn sinh học chống ASF
- Đánh giá hiệu quả bảo hộ vaccine AVAC ASF LIVE trước biến chủng genotype I/II
- 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chủng ngừa vắc xin cho gà thịt
- Kiểm soát tiểu khí hậu và phúc lợi trong nuôi vịt hiện đại: Hướng dẫn thực tiễn và bằng chứng khoa học
- 4 nguồn chất xơ tự nhiên cho heo, gia cầm, bò sữa
- Tương lai của việc kiểm soát bệnh cầu trùng
- Quy trình phòng hội chứng EDS-76 trên chim cút đẻ trứng hiệu quả từ ứng dụng bộ sản phẩm SADOVA
Tin mới nhất
T5,08/01/2026
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Sản lượng thịt heo năm 2025 tăng gần 4%
- Chuyển dịch mạnh sang chăn nuôi tập trung, quy mô lớn
- Toàn cảnh bức tranh nông nghiệp Việt Nam năm 2025 qua những con số
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh tạo dấu ấn sau năm đầu tiên sáp nhập
- TP. Hồ Chí Minh chi hơn 37 tỷ đồng xây dựng vùng an toàn dịch bệnh động vật
- Lào Cai hình thành chuỗi liên kết chăn nuôi quy mô lớn
- Nhập khẩu thịt gần 2 tỷ USD, giá lợn hơi vẫn neo cao trước Tết
- Giá heo hơi hôm nay 7-1: Tăng nhẹ, chạm mức 70.000 đồng/kg
- Xuất khẩu thịt bò của Brazil năm 2025 dự kiến đạt kỷ lục 18 tỷ USD
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà























Bình luận mới nhất