Nghiên cứu này nhằm ước tính mức độ và khuynh hướng di truyền một số tính trạng sinh trưởng và năng suất trứng của 2 dòng gà Lạc Thủy (LT1 và LT2) sau 3 thế hệ chọn lọc tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi. Kết quả phân tích di truyền trên dữ liệu của 5.525 cá thể ở dòng LT1 và 2.025 cá thể ở dòng LT2 cho thấy khối lượng 8 tuần và 20 tuần tuổi ở dòng gà LT1, và năng suất trứng 38 tuần tuổi ở dòng gà LT2 đều có khả năng di truyền ở mức trung bình (tương ứng 0,348; 0,235 và 0,299). Về khuynh hướng di truyền, cả ba tính trạng này đều cho thấy cải thiện rất tích cực qua ba thế hệ, với mức tăng bình quân là 23,3g; 57,2g và 1,0 quả trứng/thế hệ tương ứng với ba tính trạng chọn lọc.
Gà trống Lạc Thủy (Ảnh: Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn giống vật nuôi)
Việc chọn tạo dòng trống LT1 và dòng mái LT2 tách biệt theo định hướng sản xuất khác nhau bước đầu đạt được mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, để đẩy nhanh tốc độ cải tiến di truyền ở hai dòng gà LT1 và LT2, cần tiếp tục ước tính giá trị giống của các tính trạng mục tiêu phục vụ công tác chọn lọc trong các thế hệ tiếp theo.
Từ khóa: Hệ số di truyền, khuynh hướng di truyền, dòng gà LT1, LT2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các giống gà bản địa là một trong các đối tượng vật nuôi quan trọng trong chiến lược phát triển chăn nuôi ở Việt Nam trong suốt nhiều năm qua, cũng như trong giai đoạn 2021-2030. Ngoài định hướng phát triển các dòng vật nuôi đặc sản với chất lượng thịt thơm ngon, các giống gà bản địa ngày càng được quan tâm do khả năng thích nghi với các điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, chịu được kham khổ với chế độ ăn nghèo dinh dưỡng và có sức kháng bệnh tốt hơn so với các giống gà thương mại (Tadelle và ctv, 2000).
Mặt khác, đây còn là một trong các nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng sinh học về nguồn gen vật nuôi và sử dụng để lai tạo với các giống gà công nghiệp cao sản nhằm gia tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm (Fassill, 2010). Hơn thế nữa, với nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm chăn nuôi “hữu cơ” chất lượng cao của người tiêu dùng, các giống gà bản địa nuôi chăn thả hoặc bán chăn thả đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm vì chúng là thànhphần quan trọng của hệ thống sản xuất tạo ra các
sản phẩm này.
Cặp gà Lạc Thủy (Ảnh: Trung tâm thực nghiệm và Bảo tồn giống vật nuôi)
Nhiều nghiên cứu trên thế giới về đa dạngsinh học đã chỉ ra tiềm năng di truyền cao đối với các tính trạng năng suất ở các giống gà bản địa (Muchadeyi và ctv, 2007, Mwacharo và ctv,2007, Halima và ctv, 2009). Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu chọn lọc giống gà Tàu vàng ở các tỉnh Phía Nam (Trần Văn Tịnh và ctv, 2012; Nguyen Huu Tinh, 2016). Tuy nhiên, đối với các tính trạng kinh tế quan trọng của gà bản địa như sinh trưởng và đặc biệt là năng suất trứng còn rất thấp do bản năng ấp bóng chưa loại bỏ được. Ở Việt Nam, giống gà bản địa Lạc Thủy (Hòa Bình) cũng có những hạn chế tương tự. Do vậy, việc chọn lọc, tạo dòng và đánh giá khả năng di truyền, khuynh hướng di truyền của các tính trạng năng suất đối với các giống gà bản địa Việt Nam nói chung và Lạc Thủy nói riêng là rất quan trọng cho bước tiếp theo trong chương trình cải tiến di truyền lâu dài. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu nhằm ước tính mức độ di truyền và khuynh hướng di truyền một số tính trạng sinh trưởng và năng suất trứng của của dòng gà Lạc Thủy (LT1 và LT2) sau ba thế hệ thu thập nguồn gen, chọn lọc và tạo dòng tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi.
KẾT LUẬN
Khả năng di truyền của tính trạng KL8tt và KL20tt ở dòng gà LT1, cũng như NST38tt ở dònggà LT2 đều ở mức trung bình, tương ứng 0,348; 0,235 và 0,299. Mối tương quan di truyền giữa KL8tt và KL20tt ở dòng gà LT1 rất chặt chẽ nên chọn lọc nâng cao KL có thể thực hiện sớm, lúc 8 tuần tuổi. Cả ba tính trạng này đều cho thấy khuynh hướng di truyền rất tích cực qua 3 TH chọn lọc, với mức tăng bình quân là 23,3g; 57,2g và 1,0 quả trứng/TH. Việc chọn tạo dòng trống LT1 và dòng mái LT2 tách biệt theo định hướng sản xuất khác nhau bước đầu đạt được theo mục tiêu nghiên cứu. Để đẩy nhanh tốc độ cải tiến di truyền hai dòng gà LT1 và LT2, cần ước tính GTG của các tính trạng mục tiêu phục vụ công tác chọn lọc trong các TH tiếp theo.
Tác giả: Nguyễn Thị Mười1*, Phạm Công Thiếu1, Nguyễn Huy Đạt2 và Phạm Thị Thanh Bình1
1 Viện Chăn nuôi
2 Hội Chăn nuôi Việt Nam
* Tác giả liên hệ: ThS. Nguyễn Thị Mười, GĐTT Thực nghiệm
và Bảo tồn vật nuôi, Viện Chăn nuôi; Điện thoại: 0989019578;
Email: nthithuycn@ctu.edu.vn
Nguồn: Tạp chí KHKT Chăn nuôi – Hội Chăn nuôi Việt Nam
Để xem toàn bộ bài báo, kính mời quý độc giả đọc tại: http://hoichannuoi.vn/tap-chi-khkt-chan-nuoi-so-thang-102020.html
- gà lạc thủy li> ul>
- Phụ gia β-mannanase giúp tăng cường sự đa dạng của hệ vi sinh vật ở gà thịt
- Hệ thống máy ấp trứng một giai đoạn và nhiều giai đoạn: Ưu điểm và hạn chế
- Hướng dẫn phục hồi tim phổi cho chó
- An toàn sinh học chống ASF
- Đánh giá hiệu quả bảo hộ vaccine AVAC ASF LIVE trước biến chủng genotype I/II
- 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chủng ngừa vắc xin cho gà thịt
- Kiểm soát tiểu khí hậu và phúc lợi trong nuôi vịt hiện đại: Hướng dẫn thực tiễn và bằng chứng khoa học
- 4 nguồn chất xơ tự nhiên cho heo, gia cầm, bò sữa
- Tương lai của việc kiểm soát bệnh cầu trùng
- Quy trình phòng hội chứng EDS-76 trên chim cút đẻ trứng hiệu quả từ ứng dụng bộ sản phẩm SADOVA
Tin mới nhất
T6,09/01/2026
- TP Huế phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững
- Giá lợn tăng cao, người chăn nuôi phấn khởi
- Thị trường nông sản: Algeria nhập khẩu hơn 1 triệu tấn ngô để ổn định nguồn cung
- Ưu tiên phát triển chăn nuôi theo chuỗi khép kín
- TP. Hồ Chí Minh triển khai 8 nhiệm vụ trọng tâm phòng, chống dịch bệnh động vật năm 2026
- BAF Việt Nam khẳng định vị thế trong Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2025
- Đồng Nai đặt mục tiêu 100% cơ sở chăn nuôi tập trung xử lý chất thải đạt chuẩn
- Trung Quốc: Ngành gà thịt lông trắng trước ngưỡng tái cơ cấu năm 2026
- Giá heo hơi hôm nay 9-1: Tiếp tục tăng, chạm mức 71.000 đồng/kg
- Phát triển kinh tế từ mô hình nuôi lợn đen của người Mông
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất