Bệnh dịch tả lợn châu Phi (ASF) xuất hiện tại Nghệ An từ tháng 3/2019 và nhanh chóng lan rộng, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang, phỏng vấn 96 hộ chăn nuôi kết hợp phân tích số liệu của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho thấy, dịch đạt đỉnh năm 2021 (3,9%) và giảm xuống 0,84% vào năm 2022. Lợn thịt là nhóm mắc bệnh cao nhất (49%), trong khi hoạt động của con người như mua bán, vận chuyển và thú y địa phương được xác định là yếu tố nguy cơ chính làm lây lan dịch bệnh.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghệ An là một trong những địa phương có số lượng lợn lớn nhất trong khu vực, tổng đàn lên tới 935.130 con (năm 2019). Do ảnh hưởng từ ASF tổng đàn giảm 10,12% so với cùng kỳ năm 2018, ổ dịch ASF đầu tiên tại tỉnh được phát hiện vào ngày 12/3/2019 tại Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An, 2019). Cuối năm 2019, toàn tỉnh có 21/21 huyện, thị có ổ dịch, số lợn mắc bệnh và tiêu hủy là 94.065 con, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Đến năm 2020, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt hơn, chỉ 7.721 con bị chết và tiêu hủy. Năm 2021, có 21/21 huyện, thị xảy ra dịch, chiếm 100%, đến nay chăn nuôi lợn tại Nghệ An vẫn còn gặp khó khăn.
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu phát hiện sự hiện diện, tỷ lệ nhiễm ASF của các cơ sở giết mổ ở Nghệ An. Hà Tĩnh (Võ Thị Hải Lệ và cs, 2020). Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu nào đánh giá các yếu tố nguy cơ đối với ASF trên đàn lợn tại Nghệ An. Vì vậy, thực hiện nghiên cứu này là cần thiết để có những đánh giá tổng quan về đặc điểm truyền lây ASF tại khu vực Bắc Trung Bộ.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian
Sử dụng các báo cáo dịch tễ liên quan đến ASF và các hộ chăn nuôi lợn có quy mô đàn lợn, từng bị ASF theo đề xuất của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Nghệ An: Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, từ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024.
Phương pháp nghiên cứu
Điều tra hồi cứu
Điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp: tổng hợp, phân tích, đánh giá diễn biến tình hình dịch ASF giai đoạn từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2023.
Điều tra cắt ngang
Số liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra cắt ngang kết hợp phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi lợn tại 6 huyện được lựa chọn thuộc tỉnh Nghệ An. Công tác khảo sát diễn ra vào tháng 9/2024, phiếu khảo sát có sẵn bộ câu hỏi về các yếu tố truyền lây bệnh ASF nhằm mục tiêu thu thập thông tin dịch tễ liên quan đến ASF trên đàn lợn tại Nghệ An.
Bảng 1. Số hộ được điều tra theo huyện
| Huyện | Số hộ | Huyện | Số hộ |
| Thanh Chương | 22 | Nghi Lộc | 16 |
| Đô Lương | 20 | Quỳnh Lưu | 10 |
| Yên Thành | 18 | Hưng Nguyên | 10 |
Xử lý số liệu
Dữ liệu điều tra được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016. Tỷ số chênh (OR) được sử dụng đo lường mối liên quan giữa ổ dịch ASF và các yếu tố nguy cơ được xử lý bằng phần mềm WinEpi. Bản đồ dịch tễ được mô tả bằng phần mềm QGIS phiên bản 3.32.3.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tình hình bệnh tại Nghệ An 2021-2023
Số lượng lợn mắc bệnh ASF và tiêu hủy
Điều tra tình hình ASF tại Nghệ An giai đoạn từ tháng 01/2021-12/2023 cho thấy, dịch quy định toàn bộ lợn mắc bệnh đều phải tiêu hủy. Tháng 10/2021, dịch bùng phát tại 21/21 huyện, thị với 36.627 con lợn mắc bệnh và tiêu hủy (2.177,47 tấn), chiếm 3,9% tổng đàn. Năm 2022, dịch giảm mạnh, toàn tỉnh ghi nhận 8.082 con mắc bệnh (0,84% tổng đàn); đến tháng 11/2022 chỉ còn ổ dịch tại hai huyện Yên Thành và Quế Phong, cho thấy hiệu quả của các biện pháp phòng, chống dịch.
Tuy nhiên, mầm bệnh ASF vẫn có khả năng tồn tại lâu trong môi trường. Theo Randriamparany và ctv (2005), virus ASF có thể lưu lại tại các trang trại trong bị nhiễm, đặc biệt trong dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và khu vực chôn hủy lợn bệnh. Nghiên cứu của Nguyễn Thiện và ctv (2020) cũng chỉ ra rằng, các cơ sở không duy trì sát trùng định kỳ có nguy cơ xuất hiện ASF cao hơn 3,65 lần. Năm 2023, dịch có xu hướng gia tăng trở lại với 11.859 con lợn mắc bệnh, tăng 46,7% so với năm 2022; trong đó huyện Anh Sơn ghi nhận số ca cao nhất (3.642 con, chiếm 48,8%). Diễn biến dịch phức tạp tại khu vực Bắc Trung Bộ tiếp tục gây áp lực cho công tác phòng, chống ASF tại Nghệ An.
Hình 1. Số lượng lợn mắc bệnh và tiêu hủy do ASF tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2023
Phân bố ổ dịch ASF theo cấp độ huyện
Phân bố ổ dịch ASF theo cấp huyện tại Nghệ An giai đoạn 2021-2023 (Hình 2) cho thấy, năm 2021 toàn tỉnh ghi nhận 342 ổ dịch tại 2.037 thôn, 339 xã của 21 huyện, thị với 36.627 con lợn chết và tiêu hủy. Năm 2022, trong 10 tháng đầu năm xảy ra 186 ổ dịch tại 20/21 huyện, làm 7.729 con lợn chết và tiêu hủy (388,536 kg). Đến tháng 11/2022, dịch được kiểm soát tốt, toàn tỉnh chỉ còn 6 ổ dịch tại hai huyện Yên Thành và Quế Phong (Nguồn: Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An, 2022).
Năm 2023, ASF xuất hiện trở lại tại 19/21 huyện, với 114 ổ dịch được ghi nhận. Theo Bellini và ctv (2021), các hoạt động của con người, đặc biệt là việc di chuyển, thăm khám của thú y địa phương, có thể làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Bên cạnh đó, vận chuyển và mua bán lợn từ các tỉnh giáp ranh đang có dịch như Thanh Hóa và Hà Tĩnh, cùng với nguồn giống và thịt lợn không rõ xuất xứ, không được kiểm soát chặt chẽ, cũng là những yếu tố làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm ASF.
Phân bố mắc bệnh ASF theo loài lợn
Phân tích tỷ lệ lợn tiêu hủy do ASF theo từng loại lợn khác nhau để đánh giá tình hình bệnh ASF thông qua kết quả điều tra hồi cứu số liệu do Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Nghệ An cung cấp (Hình 3) cho thấy, lợn thịt có tỷ lệ mắc bệnh ASF cao nhất (49%, 13.363/52.045 con), kế đến là lợn con (25%, 13.363 con), lợn nái là 24% (12.928 con) và thấp nhất lợn đực giống (2%, 195 con). Kết quả này phù hợp với tương đồng với nghiên cứu của Trương Quốc Thái và ctv (2024): lợn thịt và lợn con có tỷ lệ nhiễm bệnh ASF cao hơn lợn nái và đực giống. Các nghiên cứu trước đây về ASF chỉ ra rằng, lợn ở mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm (Beltrán-Alcrudo và ctv, 2017; Phan Thị Hồng Phúc và ctv, 2020), nhưng chưa có báo cáo nào nghiên cứu về tính cảm nhiễm đối với ASFV trên từng lứa tuổi lợn.
Theo Guinat và ctv (2018), sự khác biệt về tốc độ lây lan của virus ASF giữa các trại chăn nuôi phản ánh tác động và thói quen của con người (chủ trại, công nhân) có thể vô tình đóng vai trò trung gian phát tán mầm bệnh. Điều này được củng cố thêm bởi khảo sát của Nguyễn Chế Thanh và ctv (2021), khi việc sử dụng chung máng ăn, máng uống tại nhiều ô chuồng nuôi có khả năng là yếu tố đẩy nhanh tốc độ lây lan thông qua đường lây truyền chính của ASF là đường tiêu hóa. Thực tế tại Nghệ An cho thấy, đàn lợn thịt thường được cho ăn bằng máng chung cho cả ô chuồng, còn lợn giống lại được bố trí máng ăn riêng biệt cho từng cá thể.
Hình 2. Bản đồ phân bố số lượng ổ dịch ASF theo cấp độ huyện tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2023
Hình 3. Mắc bệnh ASF theo loại lợn tại Nghệ An
Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh ASF
Kết quả phân tích 96 hộ chăn nuôi lợn tại tỉnh Nghệ An (Bảng 2) cho thấy, một số yếu tố nguy cơ chính liên quan đến ASF như: vị trí trại nuôi gần nguồn nước tự nhiên (<1km có nguy cơ cao gấp 1,90 lần so với các trại xa hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trương Quốc Thái và ctv (2024), khuyến cáo rằng các trại nuôi lợn <1km được xem là yếu tố nguy cơ của ASF tại tỉnh Bến Tre.
Vị trí gần chợ mua bán động vật (<1km) cũng là yếu tố nguy cơ cao lây lan dịch ASF tại Nghệ An do tập trung nhiều nguồn lợn và người mua, bán từ nhiều địa phương khác nhau. Các trại chăn nuôi gần chợ có nguy cơ mắc ASF cao gấp 2,63 lần so với những trại cách chợ >1km. Phát sinh này phù hợp với nghiên cứu của Trương Văn Hiếu và ctv (2020) tại tỉnh Bến Tre (OR=2,72; P<0,05). Bên cạnh đó, đường giao thông chính chính cũng là yếu tố lây truyền ASF: trại gần đường giao thông chính có nguy cơ mắc ASF cao gấp 1,67 lần so với trại khác.
Yếu tố con người có vai trò quan trọng như hoạt động của công nhân (thăm hỏi, mua bán lợn và cán bộ thú y). Các hộ chăn nuôi có sự tiếp xúc với nhân viên thú y và người có mắc ASF cao gấp 5,06 lần (95%: 2,21–11,58; P<0,001) so với các hộ không có tiếp xúc. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bellini và ctv (2021) về vai trò của con người như một vector cho việc lây truyền ASF.
Người di chuyển từ trại mắc ASF sang trại chưa nhiễm có thể đóng vai trò vector truyền bệnh gián tiếp, gây nguy cơ lây lan cao. Việc mua con giống từ bên ngoài không rõ nguồn gốc làm tăng nguy cơ mắc ASF lên 3,43 lần (P=0,002), do đây là con đường đưa mầm bệnh trực tiếp vào đàn. Vì vậy, lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch đầy đủ là yếu tố quan trọng để giảm rủi ro dịch bệnh (Nguyễn Trung Uyến và Diệm Đình Tương, 2019).
Tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn đang ốm/bệnh được xác định là con đường lây truyền hiệu quả của virus ASF (Blome và ctv, 2013; Guinat và ctv, 2016). Việc sử dụng nước sông làm tăng nguy cơ mắc bệnh 1,24 lần so với giếng khoan, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05), tương tự kết quả nghiên cứu tại Hải Dương (Mai Thị Ngân và ctv, 2021). Ngoài ra, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thường có quy mô nhỏ (P<0,05), phù hợp với nhận định virus có thể tồn tại trong sản phẩm thịt lợn chưa được nấu chín và lây qua đường tiêu hóa (Trương Văn Hiếu và ctv, 2020).
Bảng 2. Một số yếu tố nguy cơ chính liên quan đến bệnh ASF tại Nghệ An
Theo các nghiên cứu của Olesen và ctv (2018; Natalia và ctv, 2019), dịch ASF có thể lây truyền trực tiếp giữa những lợn bệnh với nhau hoặc thông qua các vector truyền bệnh trung gian như thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển. Kết quả phân tích cho thấy, vận chuyển ASF cao gấp 1,52 lần nhưng không có ý nghĩa thống kê và yếu tố tiếp xúc trực tiếp với lợn bệnh không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Một vấn đề nữa là lợn rừng sống trong khu hệ sinh thái có đàn lợn nuôi có thể là yếu tố lây lan dịch bệnh.
KẾT LUẬN
Tại Nghệ An, ASF xảy ra cao nhất năm 2021 (3,09%), thấp nhất năm 2022 (0,84%). Lợn thịt là đối tượng mắc ASF cao nhất (49%). Người/ra vào trại, thú y, con giống là nguy cơ lớn nhất đến ASF trên đàn lợn. Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành và người chăn nuôi lợn là yếu tố quan trọng để kiểm soát, hạn chế sự lây lan của ASF. Đồng thời, nâng cao nhận thức và kiến thức của người chăn nuôi trong việc vệ sinh, tăng cường sát trùng và thực hiện các biện pháp ATSH.
Hoàng Thị Mai, Nguyễn Bảo Hưng, Trần Xuân Minh
Trường Đại học Vinh
- chan nuoi heo li>
- dịch tả heo li>
- ASF li> ul>
- Ngành thú cưng toàn cầu: Hướng tới 500 tỷ USD
- Thủ tướng đề nghị Tập đoàn TH mở rộng dự án sữa công nghệ cao tại Nga
- Chế biến sâu – Chìa khóa nâng giá trị xuất khẩu của ngành chăn nuôi
- Kiểm soát chuột: Mắt xích quan trọng trong an toàn sinh học chăn nuôi
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chăn nuôi lợn
- GAIA Việt Nam kỷ niệm 15 năm hành trình kiến tạo giá trị và góp phần định hình tương lai ngành thú cưng
- USMEF: Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ tháng 1/2026 tăng cả khối lượng và kim ngạch
- Thị trường thú cưng Việt Nam thu hút doanh nghiệp Hàn Quốc
- Việt Nam sẵn sàng là cầu nối chuyển giao công nghệ phát triển chăn nuôi hiện đại
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 24/03/2026
Tin mới nhất
T4,25/03/2026
- Ngành thú cưng toàn cầu: Hướng tới 500 tỷ USD
- Thủ tướng đề nghị Tập đoàn TH mở rộng dự án sữa công nghệ cao tại Nga
- Tình hình dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến ASF tại Nghệ An giai đoạn 2021-2023
- Olmix Asialand Việt Nam tuyển dụng vị trí Quản lý Khách hàng Chiến lược ngành Thú y
- Chế biến sâu – Chìa khóa nâng giá trị xuất khẩu của ngành chăn nuôi
- Kiểm soát chuột: Mắt xích quan trọng trong an toàn sinh học chăn nuôi
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chăn nuôi lợn
- GAIA Việt Nam kỷ niệm 15 năm hành trình kiến tạo giá trị và góp phần định hình tương lai ngành thú cưng
- USMEF: Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ tháng 1/2026 tăng cả khối lượng và kim ngạch
- Thị trường thú cưng Việt Nam thu hút doanh nghiệp Hàn Quốc
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà



























Bình luận mới nhất