Tình hình dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến ASF tại Nghệ An giai đoạn 2021-2023 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Tình hình dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến ASF tại Nghệ An giai đoạn 2021-2023

    Bệnh dịch tả lợn châu Phi (ASF) xuất hiện tại Nghệ An từ tháng 3/2019 và nhanh chóng lan rộng, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang, phỏng vấn 96 hộ chăn nuôi kết hợp phân tích số liệu của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho thấy, dịch đạt đỉnh năm 2021 (3,9%) và giảm xuống 0,84% vào năm 2022. Lợn thịt là nhóm mắc bệnh cao nhất (49%), trong khi hoạt động của con người như mua bán, vận chuyển và thú y địa phương được xác định là yếu tố nguy cơ chính làm lây lan dịch bệnh. 

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Nghệ An là một trong những địa phương có số lượng lợn lớn nhất trong khu vực, tổng đàn lên tới 935.130 con (năm 2019). Do ảnh hưởng từ ASF tổng đàn giảm 10,12% so với cùng kỳ năm 2018, ổ dịch ASF đầu tiên tại tỉnh được phát hiện vào ngày 12/3/2019 tại Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An, 2019). Cuối năm 2019, toàn tỉnh có 21/21 huyện, thị có ổ dịch, số lợn mắc bệnh và tiêu hủy là 94.065 con, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho người chăn nuôi. Đến năm 2020, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt hơn, chỉ 7.721 con bị chết và tiêu hủy. Năm 2021, có 21/21 huyện, thị xảy ra dịch, chiếm 100%, đến nay chăn nuôi lợn tại Nghệ An vẫn còn gặp khó khăn.

     

    Các nghiên cứu trước đây chủ yếu phát hiện sự hiện diện, tỷ lệ nhiễm ASF của các cơ sở giết mổ ở Nghệ An. Hà Tĩnh (Võ Thị Hải Lệ và cs, 2020). Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu nào đánh giá các yếu tố nguy cơ đối với ASF trên đàn lợn tại Nghệ An. Vì vậy, thực hiện nghiên cứu này là cần thiết để có những đánh giá tổng quan về đặc điểm truyền lây ASF tại khu vực Bắc Trung Bộ.

     

    VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Đối tượng, địa điểm và thời gian

     

    Sử dụng các báo cáo dịch tễ liên quan đến ASF và các hộ chăn nuôi lợn có quy mô đàn lợn, từng bị ASF theo đề xuất của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Nghệ An: Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, từ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024.

     

    Phương pháp nghiên cứu

     

    Điều tra hồi cứu

     

    Điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp: tổng hợp, phân tích, đánh giá diễn biến tình hình dịch ASF giai đoạn từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2023.

     

    Điều tra cắt ngang

     

    Số liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra cắt ngang kết hợp phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi lợn tại 6 huyện được lựa chọn thuộc tỉnh Nghệ An. Công tác khảo sát diễn ra vào tháng 9/2024, phiếu khảo sát có sẵn bộ câu hỏi về các yếu tố truyền lây bệnh ASF nhằm mục tiêu thu thập thông tin dịch tễ liên quan đến ASF trên đàn lợn tại Nghệ An.

     

    Bảng 1. Số hộ được điều tra theo huyện

    Huyện Số hộ Huyện Số hộ
    Thanh Chương 22 Nghi Lộc 16
    Đô Lương 20 Quỳnh Lưu 10
    Yên Thành 18 Hưng Nguyên  10

     

    Xử lý số liệu

     

    Dữ liệu điều tra được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016. Tỷ số chênh (OR) được sử dụng đo lường mối liên quan giữa ổ dịch ASF và các yếu tố nguy cơ được xử lý bằng phần mềm WinEpi. Bản đồ dịch tễ được mô tả bằng phần mềm QGIS phiên bản 3.32.3.

     

    KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    Tình hình bệnh tại Nghệ An 2021-2023

     

    Số lượng lợn mắc bệnh ASF và tiêu hủy

     

    Điều tra tình hình ASF tại Nghệ An giai đoạn từ tháng 01/2021-12/2023 cho thấy, dịch quy định toàn bộ lợn mắc bệnh đều phải tiêu hủy. Tháng 10/2021, dịch bùng phát tại 21/21 huyện, thị với 36.627 con lợn mắc bệnh và tiêu hủy (2.177,47 tấn), chiếm 3,9% tổng đàn. Năm 2022, dịch giảm mạnh, toàn tỉnh ghi nhận 8.082 con mắc bệnh (0,84% tổng đàn); đến tháng 11/2022 chỉ còn ổ dịch tại hai huyện Yên Thành và Quế Phong, cho thấy hiệu quả của các biện pháp phòng, chống dịch.

     

    Tuy nhiên, mầm bệnh ASF vẫn có khả năng tồn tại lâu trong môi trường. Theo Randriamparany và ctv (2005), virus ASF có thể lưu lại tại các trang trại trong bị nhiễm, đặc biệt trong dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và khu vực chôn hủy lợn bệnh. Nghiên cứu của Nguyễn Thiện và ctv (2020) cũng chỉ ra rằng, các cơ sở không duy trì sát trùng định kỳ có nguy cơ xuất hiện ASF cao hơn 3,65 lần. Năm 2023, dịch có xu hướng gia tăng trở lại với 11.859 con lợn mắc bệnh, tăng 46,7% so với năm 2022; trong đó huyện Anh Sơn ghi nhận số ca cao nhất (3.642 con, chiếm 48,8%). Diễn biến dịch phức tạp tại khu vực Bắc Trung Bộ tiếp tục gây áp lực cho công tác phòng, chống ASF tại Nghệ An.

     

    Hình 1. Số lượng lợn mắc bệnh và tiêu hủy do ASF tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2023

     

    Phân bố ổ dịch ASF theo cấp độ huyện

     

    Phân bố ổ dịch ASF theo cấp huyện tại Nghệ An giai đoạn 2021-2023 (Hình 2) cho thấy, năm 2021 toàn tỉnh ghi nhận 342 ổ dịch tại 2.037 thôn, 339 xã của 21 huyện, thị với 36.627 con lợn chết và tiêu hủy. Năm 2022, trong 10 tháng đầu năm xảy ra 186 ổ dịch tại 20/21 huyện, làm 7.729 con lợn chết và tiêu hủy (388,536 kg). Đến tháng 11/2022, dịch được kiểm soát tốt, toàn tỉnh chỉ còn 6 ổ dịch tại hai huyện Yên Thành và Quế Phong (Nguồn: Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An, 2022).

     

    Năm 2023, ASF xuất hiện trở lại tại 19/21 huyện, với 114 ổ dịch được ghi nhận. Theo Bellini và ctv (2021), các hoạt động của con người, đặc biệt là việc di chuyển, thăm khám của thú y địa phương, có thể làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Bên cạnh đó, vận chuyển và mua bán lợn từ các tỉnh giáp ranh đang có dịch như Thanh Hóa và Hà Tĩnh, cùng với nguồn giống và thịt lợn không rõ xuất xứ, không được kiểm soát chặt chẽ, cũng là những yếu tố làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm ASF.

     

    Phân bố mắc bệnh ASF theo loài lợn

     

    Phân tích tỷ lệ lợn tiêu hủy do ASF theo từng loại lợn khác nhau để đánh giá tình hình bệnh ASF thông qua kết quả điều tra hồi cứu số liệu do Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Nghệ An cung cấp (Hình 3) cho thấy, lợn thịt có tỷ lệ mắc bệnh ASF cao nhất (49%, 13.363/52.045 con), kế đến là lợn con (25%, 13.363 con), lợn nái là 24% (12.928 con) và thấp nhất lợn đực giống (2%, 195 con). Kết quả này phù hợp với tương đồng với nghiên cứu của Trương Quốc Thái và ctv (2024): lợn thịt và lợn con có tỷ lệ nhiễm bệnh ASF cao hơn lợn nái và đực giống. Các nghiên cứu trước đây về ASF chỉ ra rằng, lợn ở mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm (Beltrán-Alcrudo và ctv, 2017; Phan Thị Hồng Phúc và ctv, 2020), nhưng chưa có báo cáo nào nghiên cứu về tính cảm nhiễm đối với ASFV trên từng lứa tuổi lợn.

     

    Theo Guinat và ctv (2018), sự khác biệt về tốc độ lây lan của virus ASF giữa các trại chăn nuôi phản ánh tác động và thói quen của con người (chủ trại, công nhân) có thể vô tình đóng vai trò trung gian phát tán mầm bệnh. Điều này được củng cố thêm bởi khảo sát của Nguyễn Chế Thanh và ctv (2021), khi việc sử dụng chung máng ăn, máng uống tại nhiều ô chuồng nuôi có khả năng là yếu tố đẩy nhanh tốc độ lây lan thông qua đường lây truyền chính của ASF là đường tiêu hóa. Thực tế tại Nghệ An cho thấy, đàn lợn thịt thường được cho ăn bằng máng chung cho cả ô chuồng, còn lợn giống lại được bố trí máng ăn riêng biệt cho từng cá thể.

     

    Hình 2. Bản đồ phân bố số lượng ổ dịch ASF theo cấp độ huyện tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2023

     

    Hình 3. Mắc bệnh ASF theo loại lợn tại Nghệ An

     

    Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh ASF

     

    Kết quả phân tích 96 hộ chăn nuôi lợn tại tỉnh Nghệ An (Bảng 2) cho thấy, một số yếu tố nguy cơ chính liên quan đến ASF như: vị trí trại nuôi gần nguồn nước tự nhiên (<1km có nguy cơ cao gấp 1,90 lần so với các trại xa hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trương Quốc Thái và ctv (2024), khuyến cáo rằng các trại nuôi lợn <1km được xem là yếu tố nguy cơ của ASF tại tỉnh Bến Tre.

     

    Vị trí gần chợ mua bán động vật (<1km) cũng là yếu tố nguy cơ cao lây lan dịch ASF tại Nghệ An do tập trung nhiều nguồn lợn và người mua, bán từ nhiều địa phương khác nhau. Các trại chăn nuôi gần chợ có nguy cơ mắc ASF cao gấp 2,63 lần so với những trại cách chợ >1km. Phát sinh này phù hợp với nghiên cứu của Trương Văn Hiếu và ctv (2020) tại tỉnh Bến Tre (OR=2,72; P<0,05). Bên cạnh đó, đường giao thông chính chính cũng là yếu tố lây truyền ASF: trại gần đường giao thông chính có nguy cơ mắc ASF cao gấp 1,67 lần so với trại khác.

     

    Yếu tố con người có vai trò quan trọng như hoạt động của công nhân (thăm hỏi, mua bán lợn và cán bộ thú y). Các hộ chăn nuôi có sự tiếp xúc với nhân viên thú y và người có mắc ASF cao gấp 5,06 lần (95%: 2,21–11,58; P<0,001) so với các hộ không có tiếp xúc. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bellini và ctv (2021) về vai trò của con người như một vector cho việc lây truyền ASF.

     

    Người di chuyển từ trại mắc ASF sang trại chưa nhiễm có thể đóng vai trò vector truyền bệnh gián tiếp, gây nguy cơ lây lan cao. Việc mua con giống từ bên ngoài không rõ nguồn gốc làm tăng nguy cơ mắc ASF lên 3,43 lần (P=0,002), do đây là con đường đưa mầm bệnh trực tiếp vào đàn. Vì vậy, lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch đầy đủ là yếu tố quan trọng để giảm rủi ro dịch bệnh (Nguyễn Trung Uyến và Diệm Đình Tương, 2019).

     

    Tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn đang ốm/bệnh được xác định là con đường lây truyền hiệu quả của virus ASF (Blome và ctv, 2013; Guinat và ctv, 2016). Việc sử dụng nước sông làm tăng nguy cơ mắc bệnh 1,24 lần so với giếng khoan, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05), tương tự kết quả nghiên cứu tại Hải Dương (Mai Thị Ngân và ctv, 2021). Ngoài ra, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thường có quy mô nhỏ (P<0,05), phù hợp với nhận định virus có thể tồn tại trong sản phẩm thịt lợn chưa được nấu chín và lây qua đường tiêu hóa (Trương Văn Hiếu và ctv, 2020).

     

    Bảng 2. Một số yếu tố nguy cơ chính liên quan đến bệnh ASF tại Nghệ An

     

    Theo các nghiên cứu của Olesen và ctv (2018; Natalia và ctv, 2019), dịch ASF có thể lây truyền trực tiếp giữa những lợn bệnh với nhau hoặc thông qua các vector truyền bệnh trung gian như thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển. Kết quả phân tích cho thấy, vận chuyển ASF cao gấp 1,52 lần nhưng không có ý nghĩa thống kê và yếu tố tiếp xúc trực tiếp với lợn bệnh không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Một vấn đề nữa là lợn rừng sống trong khu hệ sinh thái có đàn lợn nuôi có thể là yếu tố lây lan dịch bệnh.

     

    KẾT LUẬN

     

    Tại Nghệ An, ASF xảy ra cao nhất năm 2021 (3,09%), thấp nhất năm 2022 (0,84%). Lợn thịt là đối tượng mắc ASF cao nhất (49%). Người/ra vào trại, thú y, con giống là nguy cơ lớn nhất đến ASF trên đàn lợn. Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành và người chăn nuôi lợn là yếu tố quan trọng để kiểm soát, hạn chế sự lây lan của ASF. Đồng thời, nâng cao nhận thức và kiến thức của người chăn nuôi trong việc vệ sinh, tăng cường sát trùng và thực hiện các biện pháp ATSH.

     

    Hoàng Thị Mai, Nguyễn Bảo Hưng, Trần Xuân Minh

    Trường Đại học Vinh

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Hoàng văn hùng
  • Giá lợn hơi hôm nay

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.