[Chăn nuôi Việt Nam] – Peptides là tên gọi chung của các phân tử protein đã được thủy phân thành từng đoạn ngắn chỉ bao gồm một số ít các acid amin còn liên kết với nhau. Các thông tin cơ bản về peptides kháng khuẩn đã được giới thiệu ở Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, số tháng 8/2023. Trong bài viết này sẽ giới thiệu về việc sử dụng chế phẩm chứa peptides kháng khuẩn, có tên thương mại Halor Tid trong thức ăn chăn nuôi heo từ sau cai sữa đến xuất chuồng.
Sử dụng chế phẩm Halor Tid trong thức ăn chăn nuôi heo tăng trưởng (heo thịt)
Hình 1. Ô chuồng heo thí nghiệm
Thí nghiệm thực hiện tại Trại thực nghiệm chăn nuôi thuộc Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 11/2023 với 48 heo con sau cai sữa lai ba máu, khối lượng cơ thể bình quân 8 kg/con, được chia vào 4 lô, mỗi lô có 6 lần lập lại.
Tất cả 48 heo con sau cai sữa lai 3 máu được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố vào 4 nghiệm thức (lô thí nghiệm), mỗi lô có 6 lần lặp lại (ô chuồng), mỗi ô chuồng có 2 con heo gồm 1 đực và 1 cái. Heo ở các lô được phân bổ đồng đều về khối lượng cơ thể và giới tính. Các lô lần lượt được ký hiệu là I, II, III và IV.
- Lô I: Lô đối chứng âm, heo được cho ăn thức ăn cơ bản (TĂCB) không sử dụng kháng sinh và cũng không có các chế phẩm chiết xuất từ thực vật, acid hữu cơ, probiotics và peptides kháng khuẩn.
- Lô II: Lô đối chứng dương, heo được cho ăn TĂCB có 2 loại kháng sinh Colistin 1% và BMD 10% trong suốt quá trình nuôi dưỡng với mục đích chính là phòng ngừa nhóm vi khuẩn E. coli và Clostridium perfringens, nhất là ở giai đoạn sau cai sữa, 7-15kg.
- Lô III: Heo được cho ăn TĂCB có bổ sung chế phẩm chiết xuất từ thực vật, acid hữu cơ và probiotics nhằm thay thế kháng sinh để tăng cường sức khỏe đường ruột của heo.
- Lô IV: Heo được cho ăn TĂCB có bổ sung chế phẩm chiết xuất từ thực vật, acid hữu cơ và phần probiotics được thay chế bằng chế phẩm chứa peptides kháng khuẩn có tên thương mại là Halor Tid.
Halor Tid là một chế phẩm chứa peptide kháng khuẩn tên gọi là Citrocin. Citrocin là chuỗi peptide gồm 19 acid amin xoắn với nhau như dây cột ngựa. Dạng cấu trúc xoắn này giúp Citrocin ổn định ở nhiệt độ cao và chống lại sự thoái hóa protein. Theo giới thiệu của nhà sản xuất (Beijing Enhalor International Tech Co. Ltd.) Halor Tid có tác dụng ngăn ngừa hoạt động, phát triển của các vi khuẩn có hại như E.coli và Salmonella.
Bảng 1. Bố trí thí nghiệm sử dụng Halor Tid trong thức ăn heo thịt
|
Lô I Đối chứng âm |
Lô II Đối chứng dương |
Lô III Chế phẩm sinh học |
Lô IV Chế phẩm sinh học + Halor Tid |
|
|
Số heo thí nghiệm |
12 |
12 |
12 |
12 |
|
Số lần lập lại |
6 |
6 |
6 |
6 |
|
Thức ăn |
Căn bản |
Căn bản |
Căn bản |
Căn bản |
|
Kháng sinh |
Không |
Có |
Không |
Không |
|
Silvafeed |
0 |
0 |
500 g/T |
500 g/T |
|
Acid hữu cơ |
0 |
0 |
2000 g/T |
2000 g/T |
|
Probiotics |
0 |
0 |
1000 g/T |
0 |
|
Halor Tid |
0 |
0 |
0 |
500 g/T |
Ghi chú: Các chế phẩm bổ sung có liều sử dụng cố định trong suốt thí nghiệm.
Halor Tid là tên thương mại của chế phẩm chứa peptides kháng khuẩn với hoạt chất chính là loại peptide có tên hóa học là Citrocin do Công ty Enhalor sản xuất và được Công ty TNHH Ánh Dương Khang phân phối tại Việt Nam.
Silvafeed là tên thương mại của chế phẩm chiết xuất từ thực vật được sản xuất tại Ý, chứa polyphenols kháng khuẩn, cũng do Công ty TNHH Ánh Dương Khang phân phối tại Việt Nam.
Acid hữu cơ là loại chế phẩm chứa duy nhất acid formic và probiotics là loại chứa vi khuẩn Bacillus spp. nồng độ 109 CFU/g.
Kháng sinh sử dụng trong thức ăn của lô II là BMD 10% và Colistin 1% với liều dùng lần lượt là 300 g/T và 500 g/T để phòng ngừa chủ yếu là Clostridium perfringens và E.coli gây tiêu chảy.
Các kết quả ghi nhận được trên heo ở thử nghiệm này được trình bày trong Bảng 2 và Bảng 3.
Bảng 2. Kết quả sử dụng Halor Tid trong thức ăn heo từ sau cai sữa đến xuất chuồng
|
Lô I |
Lô II |
Lô III |
Lô IV |
P |
||||||
|
KL heo ban đầu, kg/con |
8,06 ± 1,12 |
8,02 ± 0,68 |
8,02 ± 0,54 |
8,03 ± 0,74 |
0,999 |
|||||
|
KL kết thúc GĐ I, kg/con |
27,91 ± 7,25 |
30,01 ± 3,76 |
29,54 ± 3,17 |
30,47 ± 2,58 |
0,548 |
|||||
|
KL xuất chuồng, kg/con |
89,30 ± 28,40 |
97,61 ± 6,17 |
96,94 ± 8,25 |
97,78 ± 6,4 |
0,478 |
|||||
|
TTTĐ GĐ I, kg/con/ngày |
0,473 ± 0,22 |
0,524 ± 0,07 |
0,512 ± 0,12 |
0,534 ± 0,06 |
0,358 |
|||||
|
TTTĐ toàn TN, kg/con/ngày |
0,752 ± 0,26 |
0,830 ± 0,06 |
0,823 ± 0,08 |
0,831 ± 0,06 |
0,467 |
|||||
|
FCR GĐ I, kg TĂ/kg tăng trọng |
1,760a ± 0,40 |
1,550ab ± 0,12 |
1,565ab ± 0,16 |
1,545b ± 0,12 |
0,043 |
|||||
|
FCR toàn TN, kg TĂ/kg tăng trọng |
2,490 ± 0,48 |
2,330 ± 0,08 |
2,250 ± 0,11 |
2,240 ± 0,09 |
0,331 |
|||||
Ghi chú: các giá trị trong cùng 1 hàng mang ký tự khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở P < 0,05.
KL: khối lượng; TTTĐ: tăng trọng tuyệt đối; GĐ: giai đoạn; FCR: feed conversion ratio – hệ số chuyển hóa thức ăn; TN: thí nghiệm
Từ kết quả ở bảng 2 cho thấy, thức ăn có bổ sung kháng sinh hoặc các chế phẩm sinh học; các chế phẩm sinh học Silvafeed + acid hữu cơ + Halor Tid có tác động tốt, đặc biệt là trong giai đoạn đầu thí nghiệm, heo con còn non yếu. Từ đó có ảnh hưởng lan truyền đến khối lượng cơ thể heo lúc xuất chuồng. Chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất trong chăn nuôi heo thịt là hệ số chuyển biến thức ăn (FCR) có kết quả tốt nhất ở lô heo được ăn thức ăn có bổ sung Silvafeed + acid hữu cơ và Halor Tid ở giai đoạn đầu thí nghiệm và ở toàn thí nghiệm (1,545 và 2,240), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với heo ở lô đối chứng âm (1,760 và 2,490).
Một kết quả khá thú vị là heo ở lô II, thức ăn có bổ sung hai loại kháng sinh, tuy có đạt mức tăng trọng cao hơn heo ở lô I, không bổ sung kháng sinh, nhưng cũng do ảnh hưởng của kháng sinh đã gây tác động bất lợi đến nhóm vi sinh vật có lợi trong đường ruột của heo, làm cho khả năng tiêu hóa, hấp thu dưỡng chất từ thức ăn của heo bị suy giảm nên tính trong toàn thí nghiệm thì FCR của heo ở lô II này không tốt bằng so với FCR của lô III và càng không tốt khi so với FCR của heo ở lô IV, được cho ăn thức ăn có bổ sung Silvafeed + acid hữu cơ + Halor Tid (chế phẩm chứa peptides kháng khuẩn). Có nghĩa là các chế phẩm tự nhiên có tính kháng khuẩn như Halor Tid cùng với Silvafeed với sự hỗ trợ của acid hữu cơ đã giúp tăng cường sức khoẻ đường ruột theo hướng tạo cân bằng vi sinh vật đường ruột có lợi cho heo không những đã giúp đường ruột heo khoẻ mạnh, giảm tiêu chảy mà còn giúp cho sự tiêu hóa, hấp thu dưỡng chất từ thức ăn tốt hơn nên heo khoẻ, lớn nhanh mà ít tiêu tốn thức ăn cho sự tăng trọng này.
Peptide kháng khuẩn: Là các phân tử sinh học nhỏ, do vi sinh vật tiết ra khi bị kích thích sinh học, như một vũ khí chống lại các loài có mối liên quan chặt chẽ với nó, tương tự như các phản ứng miễn dịch bẩm sinh tồn tại trong tất cả các sinh vật sống, còn được gọi là Peptide kháng khuẩn bảo vệ vật chủ.
Bảng 3. Các kết quả ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cho người nuôi heo
|
Lô I |
Lô II |
Lô III |
Lô IV |
|
|
% giảm tỷ lệ ngày con tiêu chảy so với lô I |
– |
– 17,45 |
– 13,24 |
– 21,36 |
|
Tổng tăng trọng heo TN (kg) |
975 |
1.075 |
1.067 |
1.077 |
|
Số heo chết trong thời gian thí nghiệm |
1 |
0 |
0 |
0 |
|
Chi phí TĂ + thuốc (vnd/lô) |
23.195.734 |
25.763.764 |
24.945.568 |
25.303.260 |
|
Chi phí TĂ + thuốc/kg tăng trọng (vnd/kg) |
23.790 |
23.966 |
23.379 |
23.494 |
|
Chênh lệch so với lô I (vnd/kg) % chênh lệch so với lô I |
– – |
+ 176 + 0.74 |
– 411 – 1,74 |
– 296 – 1,25 |
|
Chênh lệch so với lô II (vnd/kg) % chênh lệch so với lô II |
– |
– |
– 587 – 2,45 |
– 472 – 1,97 |
Bảng 3 cho thấy với heo cho ăn thức ăn có bổ sung hai loại kháng sinh (lô II) hoặc bổ sung chiết xuất thực vật Silvafeed + acid hữu cơ + probiotics (lô III) hoặc bổ sung chiết xuất thực vật Silvafeed + acid hữu cơ + peptides kháng khuẩn Halor Tid (lô IV) đều có tác dụng giúp heo giảm bớt tiêu chảy, tăng trọng cao hơn và từ đó có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp (tốt hơn) nên dẫn đến có tổng chi phí thức ăn + thuốc điều trị đều thấp hơn so với heo của lô đối chứng âm (lô I), vốn được cho ăn thức ăn không có bổ sung các phương tiện hỗ trợ đường ruột nào. Thậm chí, trong tháng nuôi thí nghiệm đầu tiên, heo ở lô I tiêu chảy nặng nên tuy vẫn được điều trị bằng thuốc nhưng đã có 01 heo suy yếu đến chết so với ba lô còn lại không chết heo nào.
Cũng trong bảng 3 cho thấy, khi tính đến hiệu quả kinh tế thông qua so sánh chi phí (thức ăn + thuốc điều trị/kg tăng trọng heo), ở lô I là không tốt, tức là chi phí này khá cao. Đồng thời ở lô II, thức ăn có bổ sung kháng sinh vừa có giá thành thức ăn cao và vừa có FCR cao nên chi phí này là cao nhất, còn cao hơn cả ở lô I.
Có thể thấy trong chăn nuôi heo thịt, việc bổ sung bộ các chế phẩm chiết xuất thực vật Silvafeed + acid hữu cơ + probiotics hoặc bộ các chế phẩm chiết xuất thực vật Silvafeed + acid hữu cơ + peptides kháng khuẩn Halor Tid sẽ là các giải pháp tốt nhất vì vừa giúp heo khoẻ mạnh, ít tiêu chảy trong thời gian nuôi, mà còn giúp heo có khả năng chuyển hóa dưỡng chất trong thức ăn tốt nên đưa đến chi phí (thức ăn + thuốc điều trị/kg tăng trọng của heo) là thấp nhất; tạo cơ hội đưa đến lợi nhuận cho người chăn nuôi cao hơn, nhất là khi giá bán heo không phải là tốt như trong giai đoạn hiện tại.
- ánh dương khang li>
- adk li>
- Peptides kháng khuẩn li>
- chăn nuôi li> ul>
- Tác động của thức ăn côn trùng và vi tảo đến chất lượng thịt gà
- Công nghệ phức hợp miễn dịch và tái tổ hợp trong nhà máy ấp
- 5 yếu tố cần xem xét trong một chương trình chăn nuôi heo không kháng sinh
- Bệnh bại liệt ở chó
- Biến động chất lượng vỏ trứng trong suốt chu kỳ đẻ trứng của gà
- Cải thiện hoạt động sản xuất thịt gia cầm không kháng sinh
- Đặc điểm sinh sản giống chó H’Mông cộc đuôi
- Lựa chọn đúng nguồn canxi cho loại thức ăn phù hợp
- Vịt to xác đẹp mã nhưng nhẹ cân
- Các dấu hiệu của bệnh cúm chó và cách điều trị
Tin mới nhất
T4,18/02/2026
- TP. Hồ Chí Minh: Tăng cường phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026
- Đón đọc Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam số tháng 02 năm 2026
- Cấp bách phòng, chống dịch cúm gia cầm ở Hà Tĩnh
- Thái Nguyên: Lan tỏa mô hình ‘Ngân hàng gà đen’ ở Phong Quang
- Dịch tả lợn châu Phi bùng phát tại Hàn Quốc
- Giải pháp toàn diện cho dây chuyền sản xuất thức ăn thú cưng
- Vắc-xin AVAC ASF LIVE
- Kiểm soát bệnh đường ruột
- Khai thác sức mạnh từ thực vật
- Tập đoàn Hoàng Gia De Heus
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà

























Bình luận mới nhất