Đặng Hữu Anh1*, Nguyễn Bá Hiên1, Huỳnh Thị Mỹ Lệ1, Mai Thị Ngân1, Nguyễn Thị Nguyệt1, Trần Văn Bình2, Vũ Trọng Đức1
1: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Sakan Việt Nam
*: Tác giả liên hệ, email: dhanh@vnua.edu.vn
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi gà ở Việt Nam ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành chăn nuôi. Năm 2020, tổng số gà nuôi tại Việt Nam lên đến khoảng 410 triệu con, tăng hơn 7% so với cùng kỳ năm 2019 (Thống kê chăn nuôi năm 2020). Tại Việt Nam, đặc thù chăn nuôi gà thịt là giống lai với gà bản địa (328 triệu con) chiếm số lượng ưu thế hơn hẳn so với chăn nuôi gà công nghiệp (76 triệu con). Vì vậy, vấn đề nâng cao năng suất của đàn gà thịt luôn được những nhà chăn nuôi và bác sĩ thú y quan tâm.
Bên cạnh những yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu quả như giống, thức ăn,… thì người chăn nuôi còn có thể sử dụng những sản phẩm dinh dưỡng bổ sung với mục đích đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn và giảm chi phí phòng chống bệnh. Một trong những sản phẩm dinh dưỡng được Công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Sakan Việt Nam phát triển dành cho sản xuất gà thịt là sản phẩm 007S đã được thử nghiệm ở một số trang trại đang sử dụng gà giống của Công ty TNHH MTV gà giống Dabaco. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của sản phẩm 007S với những đàn gà thịt nêu trên.
2. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung:
– Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm 007S đến khả năng sinh trưởng của đàn gà thịt.
– Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của đàn gà thịt.
Nguyên liệu:
– Chế phẩm 007S (Công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Sakan)
– Gà J-Dabaco, gà Mía thuần, gà Mía số 1 nuôi tại các trang trại.
Hình 1. Chế phẩm 007S
Phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp thiết kế thí nghiệm: Gà nuôi thí nghiệm được chia thành 02 lô bao gồm lô thí nghiệm có sử dụng chế phẩm 007S và lô đối chứng không sử dụng chế phẩm nào. Điều kiện chăn nuôi và sử dụng các thuốc, vắc xin phòng bệnh của hai lô là như nhau.
– Quy trình sử dụng chế phẩm 007S cho đàn gà thịt: Trộn chế phẩm vào nước uống (1g/2 lít) hoặc thức ăn (2g/1kg) để bổ sung cho gà. Thời điểm bắt đầu bổ sung vào lúc gà 2 tuần tuổi. Bổ sung 1 tuần/lần trong 3 ngày liên tục.
– Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học sử dụng phần mềm Excel 2016. Kết quả chỉ số FCR (Feed Conversion Ratio – Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn) của những lô thí nghiệm được so sánh theo phương pháp so sánh hai trung bình (t-test)
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Kết quả thử nghiệm chế phẩm 007S ở đàn gà J-Dabaco (n = 150)
|
Tuần tuổi |
FCR ở gà mái |
FCR ở gà trống |
||
|
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
|
|
4 tuần |
1,53 ± 0,01 |
1,70 ± 0,01 |
1,50 ± 0,03 |
1,67 ± 0,03 |
|
9 tuần |
2,78 ± 0,01 |
3,08 ± 0,01 |
2,09 ± 0,03 |
2,30 ± 0,04 |
|
15 tuần |
3,17 ± 0,13 |
3,55 ± 0,14 |
2,46 ± 0,01 |
2,73 ± 0,01 |
Bảng 2. Kết quả thử nghiệm chế phẩm 007S ở đàn gà Mía thuần (n = 150)
|
Tuần tuổi |
FCR ở gà mái |
FCR ở gà trống |
||
|
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
|
|
4 tuần |
1,62 ± 0,02 |
1,80 ± 0,03 |
1,52 ± 0,02 |
1,68 ± 0,03 |
|
9 tuần |
2,74 ± 0,05 |
2,97 ± 0,28 |
1,89 ± 0,06 |
2,06 ± 0,06 |
|
18 tuần |
3,52 ± 0,68 |
3,65 ± 0,74 |
3,19 ± 0,07 |
3,53 ± 0,08 |
Bảng 3. Kết quả thử nghiệm chế phẩm 007S ở đàn gà Mía số 1 (n = 150)
|
Tuần tuổi |
FCR ở gà mái |
FCR ở gà trống |
||
|
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
|
|
4 tuần |
1,54 ± 0,01 |
1,70 ± 0,02 |
1,51 ± 0,02 |
1,68 ± 0,03 |
|
9 tuần |
2,74 ± 0,04 |
3,07 ± 0,04 |
2,09 ± 0,03 |
2,29 ± 0,04 |
|
16 tuần |
3.21 ± 0,13 |
3,55 ± 0,14 |
2,56 ± 0,01 |
2,94 ± 0,02 |
Bảng 4. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm 007S
|
Giống gà |
Chỉ tiêu đánh giá |
Lô thí nghiệm |
Lô đối chứng |
|
Gà J-Dabaco |
FCR (15 tuần tuổi) |
2,82a ± 0,36 |
3,14b ± 0,42 |
|
Tỷ lệ loại thải gà |
3,2 % |
6,8 % |
|
|
Tổng chi phí phòng chống dịch bệnh |
8,8 triệu |
10,5 triệu |
|
|
Tổng chi phí sử dụng sản phẩm 007S |
1,4 triệu |
– |
|
|
Gà Mía thuần |
FCR (18 tuần tuổi) |
3,35 ± 0,48 |
3,59 ± 0,51 |
|
Tỷ lệ loại thải gà |
2,9 % |
6,2 % |
|
|
Tổng chi phí phòng chống dịch bệnh |
10,6 triệu |
12,3 triệu |
|
|
Tổng chi phí sử dụng sản phẩm 007S |
1,75 triệu |
– |
|
|
Gà Mía số 1 |
FCR (15 tuần tuổi) |
2,89a ± 0,38 |
3,25b ± 0,41 |
|
Tỷ lệ loại thải gà |
3,5 % |
7,3 % |
|
|
Tổng chi phí phòng chống dịch bệnh |
9,1 triệu |
11 triệu |
|
|
Tổng chi phí sử dụng sản phẩm 007S |
1,45 triệu |
– |
Ghi chú: a, b: Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05
Kết quả nghiên cứu từ các bảng số liệu (Bảng 1 – 4) cho thấy chỉ số FCR ở các giai đoạn nuôi tại các lô thí nghiệm của giống gà J-Dabaco và gà Mía số 1 đều thấp hơn so với các lô nghiên cứu có ý nghĩa thống kê với P<0,05, không phụ thuộc vào tính biệt (trống, mái). Cụ thể, FCR của gà J-Dabaco là 2,82 ± 0,36 so với lô đối chứng là 3,14 ± 0,42. Chỉ số FCR của gà Mía số 1 là 2,89 ± 0,38 so với lô đối chứng là 3,25 ± 0,41. Với giống gà Mía thuần, sự khác biệt về chỉ số FCR không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên khi hạch toán về kinh tế vẫn mang lại hiệu quả cao hơn cho đàn gà nuôi.
Hình 2. Gà J – DABACO
Hình 3. Gà Mía thuần
Hình 4. Gà Mía số 1
Hình 5. Gà Mía số 1
Như vậy, hiệu quả sử dụng chế phẩm 007S nói chung sử dụng trong chăn nuôi gà thịt bao gồm giảm chỉ số FCR, giảm chi phí phòng chống dịch bệnh và giảm tỷ lệ loại thải gà nuôi từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế khi nuôi gà thịt.
LỜI CÁM ƠN
Nghiên cứu được thực hiện với sự tài trợ về sản phẩm và động vật thí nghiệm của Công ty Cổ phần đầu tư và Phát triển công nghệ Sakan Việt Nam và Công ty TNHH MTV gà giống Dabaco.
- Sakan li>
- Công ty TNHH MTV gà giống Dabaco li> ul>
- InterPet Fest Hà Nội 2026: Cầu nối đưa ngành thú cưng vươn tầm châu Á
- Enzyme protease giúp khẩu phần cao lương rẻ tiền trở nên khả thi
- Sử dụng phụ gia trong thức ăn chăn nuôi: Cần cách tiếp cận khoa học, hài hòa giữa quản lý và thực tiễn
- Ngành chăn nuôi trước xung đột tại Trung Đông: Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó
- Sự lên men dạ cỏ
- Hơn 1000 liều vắc xin phòng dại miễn phí được tiêm cho chó, mèo tại Thái Nguyên
- Định hướng nghề nghiệp ngành thú cưng trong kỷ nguyên số
- Công nghệ tiết kiệm protein giúp tăng lợi nhuận trong chăn nuôi gia cầm
- Những hạn chế của hàm lượng oxit kẽm trong thức ăn cho lợn con
- Thay thế kháng sinh trong thức ăn cho heo con sơ sinh
Tin mới nhất
T7,04/04/2026
- Phát triển chăn nuôi đại gia súc tập trung
- Giá thịt cừu Scotland tăng mạnh do nhu cầu cao và nguồn cung toàn cầu khan hiếm
- Chăn nuôi tuần hoàn trên đất cát
- Quy định về trao đổi, chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon
- Công ty TNHH Muyuan Việt Nam tuyển nhân viên phát triển trang trại chăn nuôi
- InterPet Fest Hà Nội 2026: Cầu nối đưa ngành thú cưng vươn tầm châu Á
- Chi phí đầu vào tăng cao: Ngành chăn nuôi, thủy sản chịu sức ép lớn
- Singapore dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu huyết heo sau gần 30 năm
- Lâm Đồng tăng cường phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi
- Nghiên cứu chọn tạo nguồn chim cút sạch bệnh, rộng đường vào thị trường khó tính
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà





























Bình luận mới nhất