• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 47.000 - 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên từ 53.000 - 53.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hải Dương 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Giang 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Tuyên Quang từ 52.000 - 52.500đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Phú Thọ, Vĩnh Phúc 51.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bắc Trung Bộ từ 48.000 – 52.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trung và Nam Trung Bộ từ 47.000 – 49.000 đồng/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam 47.000 - 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bà Rịa Vũng Tàu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long An 49.000 – 50.000 đồng/kg
    •  
  • 7 lưu ý trong chăn nuôi không kháng sinh, chưa tính đến chất phụ gia

    Phụ gia không phải là lĩnh vực duy nhất cần quan tâm khi loại bỏ kháng sinh ra khỏi thức ăn.

     

    Việc sử dụng các hợp chất kháng khuẩn ở cấp độ kích thích tăng trưởng bị cấm đầu tiên ở Thụy Điển 30 năm trước và hiện nay lệnh cấm này đã lan rộng ra toàn cầu với nhiều quốc gia đang tuân thủ. Sau khi bị cấm, việc sử dụng kháng sinh cho mục đích trị bệnh tăng lên đột ngột, nhưng việc sử dụng kháng sinh nói chung đã giảm đáng kể. Đáng lưu ý, năng suất động vật cũng giảm, do đó những biện pháp khác đang được tìm kiếm để thay thế kháng sinh. Một thông tin đáng thất vọng cho nhiều người chăn nuôi, là không có sản phẩm duy nhất nào được xác định là có thể thay thế hoàn toàn kháng sinh bị cấm.

    7 lưu ý trong chăn nuôi không kháng sinh, chưa tính đến chất phụ gia

    Hình ảnh minh họa

     

    Rõ ràng là hiện nay không có công nghệ, phụ gia thực phẩm hay cách quản lý riêng biệt nào có thể thúc đẩy tăng trưởng hiệu quả được như hầu hết các loại kháng sinh, đặc biệt là trong các hệ thống sản xuất mà động vật có tình trạng sức khoẻ dưới mức trung bình. Nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn đã chứng minh rằng cần có sự kết hợp các thói quen chăn nuôi với nhau để thúc đẩy tăng trưởng hoặc ít nhất cũng đạt hiệu quả như kháng sinh. Tuy nhiên, chi phí thức ăn và (hoặc) chi phí sản xuất sẽ luôn cao hơn khi áp dụng quy trình chăn nuôi không kháng sinh.

     

    Phương pháp phổ biến nhất để thay thế thức ăn chứa kháng sinh là bổ sung các chất phụ gia bắt chước được các tác dụng của kháng sinh. Do đó, các hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn và diệt khuẩn được bổ sung vào khẩu phần ăn hiện có để làm giảm tải lượng vi sinh vật và làm giảm tính đa dạng của vi khuẩn ở cấp đường ruột. Các chất phụ gia này bao gồm các khoáng chất như oxit kẽm và đồng sulfat, một số axit hữu cơ và một số hợp chất có nguồn gốc gia vị/ thảo dược. Phương pháp này thích hợp với những hệ thống sản xuất không thể thay đổi thói quen chăn nuôi để giảm sự phụ thuộc vào chất phụ gia kháng sinh.

     

    Một phương pháp mang tính hệ thống hơn đã được chấp thuận ở Châu Âu đòi hỏi những thay đổi đáng kể trong cả thói quen sản xuất và công thức khẩu phần. Nói tóm lại, phương thức sản xuất đã được thay đổi để giảm thiểu sự phơi nhiễm của động vật đối với vi sinh vật gây bệnh và cải thiện tình trạng miễn dịch. Ngoài ra, công thức thức ăn cũng được xây dựng lại để thúc đẩy sự gia tăng lợi khuẩn ở mức tiêu hóa, lợi khuẩn này sẽ tranh các chất dinh dưỡng với vi khuẩn gây bệnh mạnh mẽ hơn. Phương pháp này còn được gọi là “loại trừ cạnh tranh” đòi hỏi sự hiểu biết sâu về hệ vi sinh đường ruột và tiêu chuẩn sản xuất cao.

     

    Trong thương mại, các yếu tố từ cả hai phương pháp này thường được kết hợp để đạt được mục tiêu hiệu suất mong muốn với chi phí tối ưu. Dưới đây là danh mục các thói quen chăn nuôi phổ biến được thực hiện khi không có mặt kháng sinh cũng như phụ gia.

     

    1. Cải thiện tình trạng sức khỏe. Vì thuốc kháng sinh có hiệu quả nhất trên động vật có sức khỏe yếu, người ta hy vọng rằng sẽ cải thiện được sức khoẻ bằng cách thắt chặt an toàn sinh học, áp dụng quy trình chăn nuôi cùng vào cùng ra, tăng cường quy trình làm sạch/ khử trùng và duy trì sức khoẻ động vật trong nông trại sẽ làm giảm sự phụ thuộc kháng sinh. Nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn đã chứng minh rằng hiệu quả của thuốc kháng sinh giảm đi rõ rệt ở động vật có sức khoẻ tốt.

     

    2. Tăng tuổi cai sữa (ở heo). Tăng tuổi cai sữa giúp heo con hình thành một hệ miễn dịch và tiêu hóa khỏe mạnh để ứng phó tốt hơn với những phơi nhiễm sau cai sữa. Điều này đặc biệt đúng khi vào thời điểm heo con phát triển hệ miễn dịch chủ động (qua tuần thứ ba) trong khi bú mẹ. Ngoài ra, còn tạo điều kiện thuận lợi lâu dài cho việc ăn dặm của heo sau giai đoạn cai sữa, điều này có thể hỗ trợ heo con toàn diện hơn.

     

    3. Kích thích in ovo (ở gà thịt). Việc cho ăn, tiêm chủng hoặc kích thích quá trình phát triển của gà con từ khi còn bên trong trứng đã cho thấy khả năng sống sót tổng thể. Đồng thời, giúp tạo ra con gà con khỏe mạnh hơn có khả năng tự ăn và uống nước nhanh chóng, cho phép chúng phát triển mạnh và hiệu suất cao hơn. Đây là một lĩnh vực đang được nghiên cứu và vẫn chưa đưa ra áp dụng vào thương mại.

     

    4. Tăng khả năng tiêu hóa dinh dưỡng. Chất dinh dưỡng không hấp thụ được từ khẩu phần ăn khó tiêu dẫn đến tạo chất nền cho sự sinh sôi của vi khuẩn. Một lượng vi sinh vật lớn không chỉ bòn rút chất dinh dưỡng từ động vật (do đó cần tác động kích thích sinh trưởng của kháng sinh) mà còn gây bệnh như colibacilli, Salmonella và clostridia. Sự tiêu hóa chất dinh dưỡng có ý nghĩa quan trọng trong tuần đầu sau khi cai sữa (heo con) và trong tuần đầu tiên của vòng đời (gà thịt). Để đạt được điều này, đầu tư vào thức ăn ban đầu là vô cùng cần thiết.

     

    5. Kích thích lượng ăn vào. Lượng ăn vào đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khoẻ đường ruột trong thời gian stress của con non. Ngay cả khi thiếu ăn trong thời gian ngắn cũng làm tăng khả năng thẩm thấu của ruột đối với các protein kháng nguyên (như những chất có trong bột đậu nành) và nhạy với vi khuẩn. Điều này thường dẫn đến bệnh tiêu chảy do phản ứng quá mẫn cảm với protein kháng nguyên của các loại đậu và (hoặc) từ nội độc tố do các vi khuẩn đi kèm như Escherichia coli sinh ra. Nhìn chung, những con non càng ăn thức ăn lành mạnh từ sớm, chúng càng có thể chịu đựng tốt với những phơi nhiễm từ môi trường sinh trưởng.

     

    6. Giảm khẩu phần protein. Vi khuẩn cần protein để phát triển và nhân lên. Bằng cách giảm protein khẩu phần và (hoặc) làm tăng khả năng tiêu hóa, sự gia tăng vi khuẩn và bệnh tiêu chảy có thể được giảm đáng kể. Đồng thời, điều quan trọng là phải bảo đảm tính cân bằng của các amino acid dễ tiêu để bảo đảm tạo nạc tối đa. Hàm lượng protein khẩu phần không được hạ xuống dưới mức 4 phần trăm trừ khi bị thiếu hụt valine và isoleucine được xác định, bằng cách định lại công thức khẩu phần hoặc sử dụng amino acid.

     

    7. Tăng cường chất xơ. Khẩu phần cho con non cần chứa lượng chất xơ tối thiểu vì chất xơ dư thừa làm loãng năng lượng, dinh dưỡng và làm giảm khả năng tiêu hóa. Tuy nhiên, một lượng chất xơ thô nhất định (3-5%) sẽ kích thích sự phát triển của hệ lợi khuẩn có thể chống lại vi khuẩn gây bệnh. Nó cũng kiểm soát lượng ăn vào, tránh ăn quá nhiều, dẫn đến giảm khả năng tiêu hóa. Do đó, nhiều khẩu phần không có kháng sinh thường được thiết kế sao cho chứa một lượng thấp các thành phần giàu chất xơ như bột củ cải đường, lúa mạch, yến mạch và nhiều phụ phẩm nông nghiệp khác.

     

    Ecovet Team (Theo Wattagnet)
    Nguồn: Ecovet

    Để lại comment của bạn

  •