• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 43.000 - 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 45.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Ninh Bình 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên 55.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc từ 50.000 - 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 35.000 – 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị 38.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Thuận từ 40.000 - 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 32.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh từ 27.000 - 28.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long từ 39.000 - 40.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tây Ninh, Đồng Tháp, Long An từ 33.000 - 36.000 đ/kg
    •  
  • Kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi tăng 16,5%

    Trong khi hàng năm Việt Nam phải chi tới hàng tỷ USD nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, nhưng ngược lại xuất khẩu cũng đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

    Kim ngạch xuất khẩu thức ăn chăn nuôi tăng 16,5%

    Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 11 tháng đầu năm 2018 đã đóng góp 0,2% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của nước, đạt 650,55 triệu USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2017.

     

    Nếu tính riêng tháng 11/2018 thì kim ngạch suy giảm 17,8% chỉ có 49 triệu USD – đây là tháng giảm thứ ba liên tiếp.

     

    Trong số những quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ Việt Nam thì Trung Quốc là thị trường có tỷ trọng lớn 31% đạt 202,19 triệu USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ, mặc dù trong tháng 11/2018 kim ngạch xuất sang đây giảm 37,71% so với tháng 10/2018 và giảm 35,06% so với tháng 11/2017 tương ứng với 11,56 triệu USD.

     

    Đứng thứ hai là thị trường Campuchia, chiếm 13% tỷ trọng đạt 84,29 triệu USD, tăng 16,06% so với cùng kỳ, mặc dù tháng 11/2018 giảm 15,36% chỉ đạt 6,64 triệu USD so với tháng 10/2018, nhưng nếu so sánh với tháng 11/2017 thì tăng 23,31%.

     

    Kế đến là các thị trường Malaysia, Ấn Độ, Mỹ đạt tương ứng 64 triệu USD; 61,99 triệu USD; 38,88 triệu USD và tốc độ xuất sang các thị trường này đều tăng trưởng, theo đó xuất sang Mỹ tăng cao nhất 54,84%; Ấn Độ tăng 35,04% và Malasyia tăng 26,43%.

     

    Ngoài những thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu sang các nước khác như Đài Loan (TQ), Indonesia…

     

    Nhìn chung, 11 tháng đầu năm nay xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng, số này chiếm 69,2%.

     

    Thời gian này, xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang hai thị trường Hàn Quốc và Mỹ tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng vượt trội, cụ thể xuất sang Hàn Quốc tăng vượt trội 89,47% tuy kim ngạch chỉ đạt 28,12 triệu USD, tính riêng tháng 11/2018 đạt 3,8 triệu USD, tăng gấp 3,2 lần (tức tăng 226,02%) so với tháng 10/2018 và gấp 3,7 lần (tức tăng 267,92%) so với tháng 11/2017. Thị trường Mỹ tăng 54,84% đạt 38,88 triệu USD, riêng tháng 11/2018 đạt 3,5 triệu USD, giảm 32,42% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 42,45% so với tháng 11/2017.

     

    Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang thị trường Indonesia giảm mạnh, tuy nhiên mức độ sụt giảm đã giảm dần, nếu như 9 tháng đầu năm giảm 42,85% thì nay 10 tháng 2018 chỉ giảm 38,13% và 11 tháng 2018 xuống còn 31,67% so với cùng kỳ 2017 tương ứng với 12 triệu USD. Tuy nhiên, tháng 11/2018 xuất sang thị trường Indonesia lại tăng khá mạnh 93,99% so với tháng 10/2018 và so với tháng 11/2017 tăng 49,23% đạt 1,9 triệu USD.

     

    Thị trường xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 11 tháng 2018

    Thị trường T11/2018 (USD) +/- so với T10/2018 (%)* 11T/2018 (USD) +/- so với cùng kỳ 2017 (%)*
    Trung Quốc 11,567,657 -37.71 202,193,802 11.8
    Campuchia 6,649,215 -15.36 84,294,796 16.06
    Malaysia 7,072,787 13.56 64,045,953 26.43
    Ấn Độ 2,178,454 -48.17 61,992,460 35.04
    Mỹ 3,552,452 -32.42 38,882,140 54.84
    Hàn Quốc 3,833,234 226.02 28,125,173 89.47
    Nhật Bản 2,946,122 9.33 27,585,846 9.4
    Đài Loan 2,208,387 -10.09 27,466,184 24.04
    Thái Lan 1,710,929 -8.02 25,863,573 -15.96
    Philippines 1,537,313 -41.2 21,267,542 -2.03
    Indonesia 1,940,148 93.99 12,008,361 -31.67
    Bangladesh 122,617 -82.75 10,827,610 -24.4
    Singapore 326,863 47.05 3,138,075 27.49

    (*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

     

    Hương Nguyễn

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

     

     

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.