Khai thác khí sinh học tại Việt Nam: Tiềm năng và thách thức - Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 57.000 - 58.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội, Hưng Yên 5.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Vĩnh Phúc 57.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 54.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An 56.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Ngãi 54.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 52.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bến Tre 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 53.000 đ/kg
    •  
  • Khai thác khí sinh học tại Việt Nam: Tiềm năng và thách thức

    [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Ngành chăn nuôi đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho vấn đề bảo vệ môi trường và phát thải khí nhà kính (KNK) nếu chất thải chăn nuôi không được kiểm soát tốt, với lượng phát thải nhiều hơn qua mỗi năm. Một trong những giải pháp giúp ngành chăn nuôi xử lý chất thải chăn nuôi và làm giảm phát thải KNK là khai thác tiềm năng từ khí sinh học (KSH).

    Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, sau 10 năm thực hiện “Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020”, ngành chăn nuôi cơ bản đã đạt được sự tăng trưởng khá cao và ổn định với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 5-6%/năm. Việt Nam trở thành quốc gia có ngành chăn nuôi lợn đứng thứ 5 thế giới về số lượng và đứng thứ 6 về sản lượng thịt. Điều này cho thấy sự tăng trưởng về quy mô đàn vật nuôi trong giai đoạn 10 năm vừa qua là rất lớn.

     

    Với lượng gia súc, gia cầm ngày càng tăng thì vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi cần được chú trọng. Theo tính toán của Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi mỗi năm thải ra 73 triệu tấn chất thải rắn và 23-30 triệu m3 nước thải. Trong số đó, khoảng 50% chất thải rắn và 80% lượng nước thải thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý.

     

    Tại Hội nghị lần thứ 26 của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP 26), Việt Nam đã đưa ra các cam kết mạnh mẽ, trong đó có tuyên bố giảm 30% lượng phát thải khí mê-tan vào năm 2030. Để đạt được cam kết giảm phát thải khí mê-tan, hạn chế vấn đề ô nhiễm và phát thải KNK do chất thải chăn nuôi gây ra, Chính phủ Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã xây dựng, ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích phát triển chăn nuôi cũng như sử dụng các giải pháp thân thiện với môi trường trong xử lý chất thải chăn nuôi. Trong đó, khai thác KSH nhằm tạo nguồn năng lượng sạch, cải thiện chất lượng môi trường và giảm phát thải KNK được đề xuất như một mô hình phát triển có tiềm năng, cần sự đầu tư đáng kể từ cả nhà nước và khối tư nhân để xử lý chất thải hữu cơ từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp.

     

    Khí sinh học có thể đạt 1.400MW

     

    Theo ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết, “Chất thải chăn nuôi được coi là nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất phân bón hữu cơ, chăn nuôi côn trùng và nuôi trồng thủy sản hướng tới nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn là những ưu tiên trong những thập kỷ tới. Vì vậy, các trang trại, cơ sở chăn nuôi phải nâng cao năng lực quản lý, xử lý chất thải chăn nuôi và sử dụng có hiệu quả nguồn chất thải chăn nuôi cho các mục đích khác nhau”.

     

    Theo nghiên cứu từ dự án BEM của tổ chức GIZ tiến hành vào năm 2021, tiềm năng KSH ở Việt nam có thể đạt khoảng 1.400MW vào năm 2035. Các nguyên liệu có công suất KSH cao nhất đến từ các trang trại chăn nuôi lợn, chế biến tinh bột săn và rác thải hữu cơ. Con số này đưa ra là hoàn toàn có cơ sở, bởi Việt Nam là nước nông nghiệp, những năm qua ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng và quy mô. Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước có gần 14.000 trang trại chăn nuôi quy mô lớn (từ 1.000 con lợn, bò, dê…trở lên) và khoảng 35.000 cơ sở chăn nuôi quy mô vừa. Tổng lượng chất thải chăn nuôi năm 2022 lên đến 81,8 triệu tấn, trong đó chăn nuôi lợn chiếm 44,9%, bò thịt chiếm 26,7%, trâu chiếm 15,3%, gia cầm chiếm 8,1%, bò sữa chiếm 4,9% trong tổng lượng chất thải chăn nuôi. Chất thải chăn nuôi được coi là nguồn nguyên liệu đầu vào, là tiềm năng phát triển năng lượng KSH.

     

    KSH tạo ra từ chất thải có thể là chìa khóa để thúc đẩy năng lượng bền vững trong tương lai. Hiện nay, ở Việt Nam có hàng nghìn hệ thống KSH được lắp đặt quy mô hộ gia đình sử dụng cho mục đích đun nấu, một số hệ thống máy phát điện KSH được lắp đặt phân tán ở các trang trại chăn nuôi thay thế cho máy phát chạy bằng dầu diesel.
    Phát triển thị trường tín chỉ các-bon

     

    Để đạt được mục tiêu giảm phát thải KNK, ngoài áp dụng công nghệ tiên tiến, ít phát thải, nhiều quốc gia đã áp dụng cơ chế tín chỉ các-bon. Đến nay, đã có khoảng 70 quốc gia, vùng lãnh thổ áp dụng phương pháp này.

     

    Việc trao đổi tín chỉ các-bon tự nguyện của Việt Nam đã được các doanh nghiệp thực hiện từ những năm 2000 khi triển khai các chương trình, dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM). Theo thống kê của Cục Biến đổi khí hậu, Bộ TN&MT, đến nay, Việt Nam đã có hơn 300 chương trình, dự án đăng ký thực hiện theo các cơ chế tín chỉ các-bon. Trong đó, có khoảng 150 chương trình, dự án được cấp tín chỉ các-bon với số lượng lớn để trao đổi trên thị trường.

     

    Năm 2022, Chính phủ Việt Nam đã quy định lộ trình phát triển thị trường các-bon nội địa. Theo đó, từ nay đến hết năm 2027 cần thực hiện xây dựng quản lý tín chỉ các-bon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải KNK và tín chỉ các-bon; xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon thí điểm từ năm 2025; triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong các lĩnh vực tiềm năng; hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế theo đúng quy định pháp luật và điều ước quốc tế; tăng cường, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường các-bon.

     

    Theo ông Hoàng Thanh Hà, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) cho biết, các Chính phủ đang đưa cho doanh nghiệp 4 phương án: Nộp phí phạt hoặc nộp thuế môi trường; Tự giảm phát thải tại cơ sở sản xuất; Mua tín chỉ giảm phát thải trên thị trường; Đầu tư, thực hiện dự án giảm phát thải các-bon ở một nơi khác.

     

    Việc mua bán tín chỉ các-bon trên thị trường là phương pháp tiên tiến mà ngày càng nhiều quốc gia triển khai. Hoạt động mua bán được thực hiện trên thị trường các-bon, nơi các bên tham gia mua/bán có thể là các doanh nghiệp trong nước trao đổi với nhau, hoặc giữa các tổ chức trong nước và các tổ chức quốc tế (có thể các tổ chức tài chính, hoặc doanh nghiệp).

     

    “Chương trình khí sinh học ngành chăn nuôi Việt Nam đã triển khai tại 53 tỉnh, đến nay đã có 181.683 công trình KSH được xây dựng đã đem lại lợi ích cho 1 triệu người dân ở khu vực nông thôn. Thông qua Chương trình, Việt Nam đã bán được 3.072.265 đơn vị tín chỉ các-bon. Qua đó, đã đóng góp cho ngân sách 8,1 triệu USD”, ông Hoàng Thanh Hà thông tin.

     

    Khuyến khích phát triển chăn nuôi quy mô tập trung

     

    Mặc dù chăn nuôi có tiềm năng phát triển KSH nhưng đây cũng là ngành có mức phát thải KNK lớn với 2 nguồn phát thải chính: khí mê-tan từ dạ cỏ của động vật nhai lại và khí NH4,N2O từ phân động vật.

     

    Theo thống kê, trong số các động vật phát thải khí mê-tan từ dạ cỏ thì bò sữa gây phát thải nhiều nhất, 68kg khí CH4/con/năm, bò thịt và trâu là 47 – 55kg khí CH4/con/năm, ngựa là 18kg khí CH4/con/năm, dê và cừu là 5kg khí CH4/con/năm. Do số lượng bò và trâu của nước ta khá lớn vì vậy số lượng phát thải khí mê-tan hàng năm rất cao, hầu hết xảy ra đối với động vật chăn nuôi tập trung, sử dụng nhiều nước để làm vệ sinh
    chuồng trại.

     

    Trong khi đó, ngành chăn nuôi Việt Nam có 41,8% cơ sở chăn nuôi đầu tư xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp kỵ khí có hoặc không thu hồi KSH; 32,4% số trang trại sử dụng phương pháp xử lý hiếu khí (composting); 21,9% số cơ sở chăn nuôi áp dụng phương pháp xử lý khác; vẫn còn 3,9% số cơ sở chăn nuôi không xử lý chất thải.

     

    Đây chính là thách thức đối với ngành chăn nuôi nước ta và cũng là thách thức trước cam kết của Việt Nam tại COP26 đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, giảm khí mê-tan 30% tính đến năm 2030.

     

    Để đạt được mục tiêu giảm thiểu phát thải KNK từ hoạt động chăn nuôi, phải nhanh chóng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung quy mô lớn để quản lý an toàn sinh học, bảo vệ môi trường. Khuyến khích các công nghệ tái sử dụng, tái chế chất thải từ chăn nuôi. Nghiên cứu, đẩy mạnh phát triển các mô hình chăn nuôi – trồng trọt – nuôi trồng thủy sản không phát thải theo hướng quay vòng, tận thu và tái sử dụng toàn bộ chất thải.

     

    Theo báo cáo “Triển vọng Năng lượng Việt Nam”, để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng“0” vào năm 2050 với chi phí thấp nhất, nguồn điện từ năng lượng tái tạo cần phải là nguồn thay thế chính cho nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi xanh của hệ thống điện sẽ cần rất nhiều vốn đầu tư mỗi năm. Riêng trong năm 2050, số vốn cần có ước tính lên tới 167 tỷ USD, tương đương 11% GDP dự kiến của
    Việt Nam.

     

    Vì vậy, khai thác KSH là một hướng đi đúng đắn để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giúp cho các hộ chăn nuôi xử lý chất thải, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm phát thải KNK góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững, an toàn sinh học. Khai thác nguồn KSH là một giải pháp cho các vấn đề môi trường trong bối cảnh nguồn nhiên liệu đang ngày một cạn kiệt và biến đổi khí hậu gia tăng.

    Thu Hằng

    ÔNG TỐNG XUÂN CHINH, PHÓ CỤC TRƯỞNG CỤC CHĂN NUÔI: Công nghệ KSH tại Việt Nam còn nhiều khó khăn

     

    Cần cải tiến công nghệ và thiết bị sử dụng KSH bằng cách tăng cường hỗ trợ nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi cho các quy mô khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử dụng khí nhằm tránh tình trạng quá tải và đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Khuyến khích các công ty tư vấn và chuyển giao công nghệ phát triển thị trường cung cấp công nghệ, dịch vụ liên quan đến việc xây dựng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình cũng như các thiết bị sử dụng KSH.

     

    ÔNG NATHAN MOORE, GIÁM ĐỐC DỰ ÁN BEM: Bổ sung điện sạch từ nguồn KSH

     

    Bằng việc phát triển khí sinh học để phát điện, Việt Nam sẽ giảm phát thải khí mê-tan và CO2, đồng thời bổ sung nguồn điện sạch cho lưới điện. Việt Nam có nhiều tiềm năng sử dụng khí sinh học, tuy nhiên để phát triển nguồn khí sinh học ở quy mô vừa và lớn thì vẫn còn thiếu chính sách hỗ trợ cũng như gặp nhiều rào cản công nghệ.

     

    ÔNG HOÀNG THANH HÀ, TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN HÀ LAN (SNV): Thị trường các-bon là giải pháp được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn

     

    Thị trường các-bon tại Việt Nam được phát triển sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK. Doanh thu từ mua bán tín chỉ các-bon là nguồn lực quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.

    Thu Hằng (ghi)

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.