Kích thước lứa đẻ là yếu tố rất quan trọng quyết định khả năng sinh lời của heo nái.
Ảnh minh họa
Một hạn chế lớn đối với việc tăng kích thước lứa đẻ là mất phôi xảy ra trong tuần thứ 2 đến tuần thứ 3 của thai kỳ (Geisert và Schmitt, 2002, J Anim Sci. 80, E54-E65).
Nhiều yếu tố có thể góp phần vào sự mất mát này và một nguyên nhân có thể gây tử vong phôi sớm có thể là sự tồn tại của một số alen có hại (các dạng gen khác nhau) cho các gen thiết yếu dẫn đến tử vong thai nhi ngay sau khi heo nái mang thai. Tần suất của các alen có hại này có thể giảm trong một quần thể sau khi lựa chọn dài hạn cho kích thước lứa đẻ lớn, chẳng hạn như trong các dòng mẹ. Tuy nhiên, trong các giống chưa được chọn để tăng kích cỡ lứa đẻ (eg.Duroc), các alen có hại này có thể bị bỏ qua (hoặc ẩn) và ở tần suất cao hơn so với các quần thể được chọn.
Thông thường những alen gây hại này khiến thai nhi chết khi chúng có mặt ở trạng thái đồng hợp tử (gọi là gen lặn, một bản sao có hại từ mỗi bố mẹ, ví dụ aa). Khi chúng có mặt trong trạng thái dị hợp tử (các alen được thừa kế từ bố và mẹ là giống khác nhau, chẳng hạn như Aa), cá thể sống sót và có kiểu hình bình thường. Động vật dị hợp tử này, được gọi là chất mang rất khó xác định và do đó có thể tiếp tục lan truyền các alen có hại trong quần thể.
Công nghệ gen bây giờ cung cấp một cách tiếp cận hiện đại để phát hiện các alen có hại đó được cho là tương đối phổ biến trong một quần thể không được chọn nhưng không bao giờ xuất hiện ở trạng thái đồng hợp tử lặn ở động vật sống. Cách tiếp cận này chỉ yêu cầu dữ liệu kiểu gen trên kiểu hình bình thường (tức là ở con sống) để phát hiện các alen có hại thông qua phân tích thống kê. Cách tiếp cận này ban đầu được sử dụng trong bò sữa và phát hiện alen liên quan đến dị tật sinh sản (VanRaden et al., 2011, J Dairy Sci. 94, 6153-6161). Nhiều nghiên cứu gần đây đã bắt đầu tìm kiếm ở heo và tìm thấy một số alen liên quan đến những lứa đẻ ít hơn và nhiều heo con chết khi sinh ra hơn trong dòng mẹ và các dòng thương phẩm (Häggman và Uimari, 2017, J Anim Breed Genet. 134, 129-135; Howard et al ., 2017, GSE 49, 57; Derks và cộng sự, 2017, BMC Genomics. 18, 858).
Trong cơ sở dữ liệu gen Genesus, chúng tôi có hàng ngàn con heo với dữ liệu kiểu gen thông tin (60K, 80K, 650K và chuỗi rộng) cho phép chúng tôi tìm kiếm những alen có hại có liên quan đến kích thước lứa đẻ và tiếp tục ước tính ảnh hưởng của chúng lên khả năng sinh sản của heo, tập hợp lớn các kiểu hình. Nỗ lực ban đầu của chúng tôi tập trung vào heo đực Duroc sử dụng kiểu gen SNP 650K. Một số khu vực của bộ gen đã được tìm thấy có khả năng chứa alen có hại. Ví dụ, đối với SNP quan trọng nhất, chúng tôi dự đoán rằng cần có 45 đồng hợp tử lặn (aa) nhưng không ai quan sát thấy. Khu vực chứa SNP này có liên quan đáng kể với nhiều phôi chết khô(P <0,001).
So với các báo cáo trước đây ở heo (xem ở trên), các vùng gen được xác định trên một só giống hoặc đàn cụ thể, mặc dù chúng tôi đã thấy một vài khu vực có thể trùng lặp với những phát hiện trước đó. Những phát hiện này cung cấp thông tin có giá trị để có khả năng tăng kích thước lứa đẻ trong quần thể Genesus Duroc. Điều này sẽ dẫn đến không chỉ nhiều heo được sản xuất mà còn tăng cường cải thiện di truyền thông qua cường độ chọn lọc cao hơn. Các phương pháp tiếp cận để giảm tần suất của các alen có hại này bao gồm việc lựa chọn bộ gen và các kế hoạch giao phối dựa trên bộ gen sử dụng chip SNP tùy chỉnh Genesus.
Việc thực hiện các kết quả nghiên cứu như vậy sẽ góp phần đáng kể vào mục tiêu về tăng giá trị và lợi nhuận cho khách hàng Genesus.
Nguồn: Tiến sĩ Chunyan Zhang, Phd, Genetician Genesus Inc.
Tiến sĩ Chunyan Zhang là nhà di truyền học của Genesus Inc.
Chunyan có bằng Cử nhân và Tiến sĩ tại Đại học Nông nghiệp Huazhong ở Trung Quốc. Cô được trao tặng học bổng sau tiến sĩ Mitacs Elevate Postdoctoral tại Đại học Alberta từ năm 2014 đến năm 2016. Cô đã xuất bản hơn 20 bài báo trong các tạp chí khoa học được đánh giá ngang hàng.
Kể từ khi nhận được bằng tiến sĩ vào năm 2010, Chunyan đã làm việc trong chương trình của Tiến sĩ Graham Plastow tại Livestock Gentec, Đại học Alberta với tư cách là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ và gần đây nhất là một nhà nghiên cứu.
Cô đã tích cực tham gia vào một số dự án nghiên cứu và phát triển tập trung vào các phương pháp di truyền và di truyền để cải thiện các tính trạng quan trọng về kinh tế trong sản xuất thịt heo. Cô đã cộng tác với các công ty di truyền heo trong việc thực hiện các dự án theo hướng công nghiệp.
Trong vai trò mới của mình, Chunyan sẽ phát triển và thực hiện các dự án R & D được tài trợ bên ngoài và bên ngoài tập trung vào việc tăng cường cải thiện di truyền heo thông qua việc kết hợp các công nghệ gen. Là một thành viên của nhóm chương trình di truyền Genesus, cô sẽ cộng tác với các thành viên khác trong nhóm và nhân viên đại học về các dự án R & D và các dịch vụ kỹ thuật. Ngoài ra, cô sẽ cung cấp sự giám sát và hỗ trợ trực tiếp cho các đàn heo Genesus ở Trung Quốc và châu Á cũng như hỗ trợ kỹ thuật cho nhóm bán hàng Genesus ở Trung Quốc và châu Á.
- kích thước lứa đẻ li>
- công cụ di truyền li>
- lua chon heo nai li>
- dinh dưỡng cho heo nái li>
- chăm sóc lợn nái li>
- nuôi lợn nái đẻ li> ul>
- Dabaco Việt Nam: Đặt mục tiêu 80.000 heo nái và trên 2 triệu heo thịt/năm trước năm 2028
- Gà J số 1 Dabaco: Giải pháp vàng cho chăn nuôi hiện đại
- Kon Chiêng: Điểm đến của các dự án chăn nuôi quy mô lớn
- Khu gian hàng Viet nam Pavilion: Điểm hẹn kết nối ngành chăn nuôi Việt Nam vươn tầm quốc tế
- ILDEX Vietnam 2026: Định vị Việt Nam là trung tâm khu vực về đổi mới chăn nuôi và nông nghiệp thực phẩm
- Gần 30 doanh nghiệp góp mặt tại Ngày hội Thú cưng Cần Thơ 2026
- Cần Thơ tổ chức Ngày hội Thú cưng 2026 với nhiều hoạt động trải nghiệm
- Công nghệ phân tích và xét nghiệm: “Chìa khóa” cho sự phát triển bền vững ngành thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y
- Thị trường dịch vụ thú cưng Việt Nam: Yêu cầu chuẩn hóa chuyên môn thú y
- Quảng Trị: Chăn nuôi công nghệ cao là hướng đi tất yếu
Tin mới nhất
T3,28/04/2026
- Dabaco Việt Nam: Đặt mục tiêu 80.000 heo nái và trên 2 triệu heo thịt/năm trước năm 2028
- Ngành chăn nuôi và TĂCN Hoa Kỳ: Chuyển dịch mạnh sang “dinh dưỡng chính xác”
- Gà J số 1 Dabaco: Giải pháp vàng cho chăn nuôi hiện đại
- Giá nhiều loại thức ăn chăn nuôi tăng lần thứ 4 trong năm
- Kon Chiêng: Điểm đến của các dự án chăn nuôi quy mô lớn
- Khu gian hàng Viet nam Pavilion: Điểm hẹn kết nối ngành chăn nuôi Việt Nam vươn tầm quốc tế
- ILDEX Vietnam 2026: Định vị Việt Nam là trung tâm khu vực về đổi mới chăn nuôi và nông nghiệp thực phẩm
- Gần 30 doanh nghiệp góp mặt tại Ngày hội Thú cưng Cần Thơ 2026
- Cần Thơ tổ chức Ngày hội Thú cưng 2026 với nhiều hoạt động trải nghiệm
- Công nghệ phân tích và xét nghiệm: “Chìa khóa” cho sự phát triển bền vững ngành thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y
- Gần 30 doanh nghiệp góp mặt tại Ngày hội Thú cưng Cần Thơ 2026
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan

























Bình luận mới nhất