Nhập khẩu ngô, lúa mì và đậu tương trong 3 tháng 2023 - Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 57.000 - 58.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội, Hưng Yên 5.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Vĩnh Phúc 57.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 54.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An 56.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Ngãi 54.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 52.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bến Tre 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 53.000 đ/kg
    •  
  • Nhập khẩu ngô, lúa mì và đậu tương trong 3 tháng 2023

    Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong quý I/2023 đạt gần 2,19 triệu tấn, trị giá trên 738,5 triệu USD, giá trung bình 337,6 USD/tấn, tăng 4,8% về lượng, tăng 9% kim ngạch và tăng 4% về giá so với quý I/2022.

     

    Trong đó, riêng tháng 3/2023 đạt 767.359 tấn, tương đương 260,65 triệu USD, giá trung bình 339,7 USD/tấn, tăng trên 20% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2/2023, giá cũng tăng 0,6%; so với tháng 3/2022 thì tăng mạnh 48,8% về lượng, tăng 50,4% về kim ngạch và tăng 1,1% về giá.

     

    Brazil là thị trường chủ đạo cung cấp ngô cho Việt Nam trong quý I/2023, chiếm trên 55,5% trong tổng lượng và chiếm 54,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt 1,21 triệu tấn, tương đương gần 404,69 triệu USD, giá 333,5 USD/tấn, tăng mạnh 292,6% về lượng, tăng 308,5% kim ngạch và tăng 4% về giá so với quý I/2022; riêng tháng 3/2023 đạt 393.397 tấn, tương đương 131,87 triệu USD, giá 335,2 USD/tấn, tăng gần 5% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2/2023, giá tăng nhẹ 0,1%; so với tháng 3/2022 thì tăng mạnh 467,3% về lượng, tăng 458,8% về kim ngạch, nhưng giá giảm 1,5%.

     

    Thị trường lớn thứ 2 là Ấn Độ, trong quý I/2023 đạt 422.841 tấn, tương đương 140,54 triệu USD, giá 332,4 USD/tấn, chiếm trên 19% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 16,4% về lượng, giảm 9,8% về kim ngạch nhưng giá tăng nhẹ 7,8% so với quý I/2022.

     

    Tiếp đến thị trường Achentina quý I/2023 đạt 405.962 tấn, tương đương 135,85 triệu USD, giá 334,7 USD/tấn, chiếm trên 18% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm mạnh 58% về lượng, giảm 57,4% về kim ngạch nhưng giá tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước.

     

    Nhập khẩu ngô quý I/2023

    (Tính toán theo số liệu công bố ngày 14/4/2023 của TCHQ)

    Quý I/2023 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt 1,21 triệu tấn, tương đương trên 444,71 triệu USD, tăng 14,8% về khối lượng, tăng 15,8% về kim ngạch so với quý I/2022.

     

    Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 3/2023 cả nước nhập khẩu 593.229 tấn lúa mì, tương đương 215,37 triệu USD, giá trung bình 363 USD/tấn, tăng mạnh 54,5% về lượng, tăng 50,8% kim ngạch nhưng giảm 2,4% về giá so với tháng 2/2023. So với tháng 3/2022 cũng tăng 23,4% về lượng, tăng 22,3% kim ngạch nhưng giảm 0,9% về giá.

     

    Tính chung trong quý I/2023 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt 1,21 tấn, tương đương trên 444,71 triệu USD, tăng 14,8% về khối lượng, tăng 15,8% về kim ngạch so với quý I/2022, giá trung bình đạt 366,4 USD/tấn, tăng 0,9%.

     

    Trong tháng 3/2023 nhập khẩu lúa mì từ thị trường chủ đạo Australia tăng mạnh 112,9% về lượng và tăng 109% kim ngạch, nhưng giảm 1,8% về giá so với tháng 2/2023, đạt 477.225 tấn, tương đương 168,92 triệu USD, giá 354 USD/tấn; so với tháng 3/2022 cũng tăng 30,4% về lượng, tăng 24,5% kim ngạch nhưng giảm nhẹ 4,5% về giá. Tính chung cả quý I/2023, nhập khẩu lúa mì từ thị trường Australia, chiếm gần 68% trong tổng lượng và chiếm 65,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, đạt 814.288 tấn, tương đương 290,82 triệu USD, giá trung bình 357,2 USD/tấn, tăng 16,8% về lượng, tăng 14,2% về kim ngạch nhưng giảm 2,2% về giá so với quý I/2022.

     

    Bên cạnh thị trường chủ đạo Australia là thị trường Brazil chiếm gần 22% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 261.611 tấn, tương đương 95,82 triệu USD, giá trung bình 366,3 USD/tấn, tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch giá so với quý I/2022, với mức tăng tương ứng 36,2%, 47,3% và 8,2%.

     

    Tiếp đến thị trường Mỹ đạt 72.319 tấn, tương đương 31,41 triệu USD, giá 434,3 USD/tấn, giảm 6,8% về lượng, giảm 9,9% kim ngạch và giảm 3,4% về giá so với quý I/2022, chiếm 6% trong tổng lượng và chiếm 7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.Nhập khẩu lúa mì từ thị trường Canada đạt 42.615 tấn, tương đương 18,25 triệu USD, tăng mạnh 878% về khối lượng và tăng 797% về kim ngạch so với quý I/2022.

     

    Nhập khẩu lúa mì quý I/2023

    (Tính toán theo số liệu công bố ngày 14/4/2023 của TCHQ)

    Quý I/2023 cả nước nhập khẩu 498.647 tấn đậu tương, trị giá gần 346,58 triệu USD, giá trung bình 695 USD/tấn.

     

    Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 3/2023 đạt 196.771 tấn, tương đương133,25 triệu USD, giá trung bình 677,2 USD/tấn, giảm 15,6% về lượng và giảm 20,3% kim ngạch so với tháng 2/2023, giá giảm5,6%; so với tháng 3/2022 tăng 29,3% về lượng, tăng 27,4% về kim ngạch nhưng giảm 1,5% về giá.

     

    Tính chung quý I/2023 cả nước nhập khẩu 498.647 tấn đậu tương, trị giá gần 346,58 triệu USD, giá trung bình 695 USD/tấn, giảm 4,9% về lượng, nhưng tăng 3,7% kim ngạch và tăng 9% về giá so với quý I/2022.

     

    Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam từ thị trường Mỹ nhiều nhất, trong tháng 3/2023 giảm 22,7% về lượng và giảm 27,9% về kim ngạch so với tháng 2/2023, giá giảm 6,7%, đạt 119.120 tấn, tương đương 80,81 triệu USD, giá 678,4 USD/tấn; Tính chung, quý I/2023 nhập khẩu đậu tương từ thị trường này đạt 329.874 tấn, tương đương 230,43 triệu USD, chiếm trên 66% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng mạnh 59,3% về lượng, tăng 77,4% về kim ngạch, giá tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.

     

    Nhập khẩu đậu tương từ thị trường Brazil – thị trường lớn thứ 2 trong quý I/2023 đạt 135.084 tấn, tương đương 91,57 triệu USD, giá 677,9 USD/tấn, chiếm trên 27% trong tổng lượng và chiếm 26,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, giảm mạnh 51,8% về lượng, giảm 49% về kim ngạch nhưng giá tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.

     

    Ngoài ra, nhập khẩu đậu tương từ thị trường Canada quý I/2023 đạt 27.122 tấn, tương đương 19,99 triệu USD, giá 736,9 USD/tấn, giảm 15,3% về lượng, giảm 5,6% về kim ngạch nhưng giá tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu từ thị trường Campuchia đạt 270 tấn, tương đương 211.300 USD, giá 782,6 USD/tấn, giảm 94% cả về lượng và kim ngạch nhưng tăng 7% về giá.

     

    Nhập khẩu đậu tương quý I/2023

    (Tính toán theo số liệu công bố ngày 14/4/2023 của TCHQ)

    Tổng hợp: Thuỷ Chung

    Trung tâm TTCN&TM

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.