Tiết kiệm thức ăn: Giải pháp cho chăn nuôi bền vững - Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 68.000 - 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Vĩnh Phúc, Hưng Yên 68.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 64.000 - 68.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 64.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An 66.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa, Bình Thuận 67.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 66.000 - 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 68.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bến Tre, Kiên Giang 67.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trà Vinh 66.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tiền Giang 69.000 đ/kg
    •  
  • Tiết kiệm thức ăn: Giải pháp cho chăn nuôi bền vững

    [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Việt Nam là đất nước nông nghiệp nhưng sản xuất của ngành trồng trọt không đủ cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành chăn nuôi. Năm 2021, chúng ta đã phải nhập hơn 24 triệu tấn trong đó trên 12 triệu tấn ngô, 6 triệu tấn khô đỗ tương và đỗ tương, trên 1 triệu tấn DDGS…và trên 97% lượng thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm là dành cho lợn và gia cầm …

     

    Việc tìm giải pháp giảm nhập khẩu thức ăn là hết sức quan trong và cần thiết bởi chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng lớn (60-75%) trong cơ cấu giá thành sản phẩm chăn nuôi và trên 60% phát thải các bon trong chăn nuôi lợn và gia cầm là từ thức ăn. Việc giảm hệ số chuyển hóa thức ăn sẽ tiết kiệm chi phí thức ăn và giảm phát thải các bon ra môi trường trong chăn nuôi và góp phần giúp sản xuất bền vững.

     

    Người tiêu dùng sản phẩm và các nhà làm chính sách đã và đang quan tâm đến vấn đề sản xuất bền vững và việc đánh giá sản xuất bền vững đang ngày càng dựa vào tiêu chí hệ số chuyển hóa thức ăn. Việc giảm hệ số chuyển hóa thức ăn tức là giảm lượng thức ăn để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm – đây là thách thức không nhỏ. Không thể chỉ áp dụng 1 phương pháp để giảm chỉ số này, vì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nó. Các giải pháp chủ yếu bao gồm di truyền giống, công thức thức ăn, quản lý phân phối và sử dụng thức ăn, sức khỏe đường ruột, tiểu khí hậu chuồng nuôi…

     

    Trong khuôn khổ báo cáo này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số giải pháp mà chúng tôi cho là đang còn khá yếu trong sản xuất lợn và gia cầm ở nước ta.

     

    1. TIẾT KIỆM NGUỒN NĂNG LƯỢNG BẰNG CÂN BẰNG NĂNG LƯỢNG THUẦN NE

     

    Trong cơ cấu giá thành thức ăn, thức ăn cung cấp năng lượng chiếm ít nhất là 50% cơ cấu về giá. Vì vậy có thể thấy rằng chúng ta có cơ hội rất cao để giảm giá thành từ thức ăn cung cấp năng lượng. Hiện nay, nhiều nơi trên thế giới xây dựng khẩu phần ăn dựa vào năng lượng tiêu hóa DE hoặc năng lượng trao đổi ME vì: 1) Năng lượng là chất dinh dưỡng phức tạp hơn dưỡng chất khác vì nó do nhiều nguồn dinh dưỡng cấu thành. 2) Nhiều nơi thiếu số liệu về giá trị năng lượng của nguyên liệu thức ăn và thiếu các dữ liệu nghiên cứu hệ thống năng lượng. 3) Nhiều nhà dinh dưỡng cảm thấy thoải mái khi sử dụng hệ thống năng lượng DE hoặc ME nên chưa áp dụng hệ thống năng lượng thuần (NE) vì phức tạp hơn.

     

    Lợi ích của việc dùng năng lượng thuần là do có ước tính chính xác hơn về giá trị năng lượng thực của nguyên liệu sẵn có cho động vật sử dụng để duy trì và tạo sản phẩm. Sự khác nhau chính giữa hệ thống năng lượng thuần và hệ thống năng lượng tiêu hóa/trao đổi là hệ thống NE cân nhắc đến lượng mất mát bởi nhiệt trong quá trình tiêu hóa và sự tích lũy chất dinh dưỡng trong tế bào protein và béo. Sử dụng NE để xây dựng khẩu phần ăn sẽ tiết kiệm chất dinh dưỡng và lượng chất thải ra môi trường giảm đi. Để áp dụng, cần phân tích tất cả các nguyên liệu thức ăn phổ biến nhất cho động vật về các chỉ tiêu: vật chất khô, protein thô, béo, xơ thô, ADF, NDF, tinh bột và đường. sử dụng công thức để tính ra giá trị DE, ME, NE và so sánh với nhau.

     

    Công thức ước tính NE:

     

    NE = (0.700 x DE) + (1.61 x EE) + (0.48 x Tinh bột) – (0.91 x Protein thô) – (0.87 x ADF)

     

    Bảng 1 cho chúng ta thấy rõ ME của khô đỗ tương gần bằng ngô (95%) nhưng NE của khô đỗ tương lại rất thấp so với ngô (75%). Nguyên nhân chính là do khô đỗ tương có rất ít tinh bột, nhưng lại rất cao protein, nên con vật phải mất nhiều năng lượng cho việc tiêu hóa hấp thu protein hơn nên giá trị NE thấp hơn, nghĩa là giá trị năng lượng thuần, năng lượng hữu ích đối với con vật của khô đỗ tương thấp hơn ngô. Theo Hans H. Stein 2020, ở trên lợn tỷ lệ NE/ME của chất béo là 90%, tinh bột là 82%, protein là 60% trong khi của xơ từ 0-60%.

     

    Bảng 1. So sánh giá trị các loại năng lượng của ngô và khô đỗ tương (NRC 2012)

    Stt

    Mục

    Đơn vị

    Ngô

    Khô đỗ tương SBM

    So sánh SBM/Ngô (%)

     

    Năng lượng thô GE

    Kcal/kg

    4.453

    4.720

    106

    2

    Năng lượng tiêu hóa DE

    Kcal/kg

    3.908

    4.021

    103

    3

    Năng lượng trao đổi ME

    Kcal/kg

    3.844

    3.652

    95

    4

    Năng lượng thuần NE

    Kcal/kg

    3.025

    2.262

    75

    5

    Chất béo EE

    %

    3,5

    1,5

     

    6

    Tinh bột

    %

    62,6

    1,9

     

    7

    Protein CP

    %

    8,2

    47,7

     

    8

    Xơ ADF

    %

    2,9

    5,3

     

     

    2. TIẾT KIỆM NGUỒN PROTEIN BẰNG KHẨU PHẦN ĂN CÂN BẰNG ACID AMIN TIÊU HÓA HỒI TRÀNG TIÊU CHUẨN

     

    Protein là thành phần đắt giá trong các loại nguyên liệu thức ăn cho nên việc tối đa hóa hiệu quả sử dụng protein và AA là rất quan trọng. Các nhà di truyền chọn giống đã thực hiện phần công việc của mình là tạo ra con giống lớn nhanh và sử dụng tốt thức ăn. Nhưng mỗi con giống lại cần một khẩu phần ăn phù hợp với nó nên thách thức của các nhà dinh dưỡng là đưa ra giải pháp về thức ăn để duy trì và phát huy tối đa tiềm năng di truyền của con giống. Sự tiến bộ của dinh dưỡng động vật và thức ăn chăn nuôi là các nhà dinh dưỡng xây dựng khẩu phần ăn cho động vật bắt đầu đi từ căn cứ vào protein thô, protein tiêu hóa, axít amin tổng số (total amino acid), axít amin tiêu hóa (digestible AA), axít amin tiêu hóa hồi tràng biểu kiến (apparent ileal digestible amino acid (AID AA) và hiện nay là axít amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn (hay axít amin tiêu hóa hồi tràng  điều chỉnh standardized ileal digestible amino acid – SID AA).

     

    Có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đã chứng minh lợi ích sử dụng giá trị axít amin tiêu hóa so với axít amin tổng do tính ưu việt của nó trong xây dựng khẩu phần ăn, tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Just A. và ctv (1985) đã chỉ ra mối tương quan giữa axít amin tiêu hóa và protein tích lũy trong thân thịt chặt chẽ hơn so với axít amin tổng số. Các tác giả cũng quan sát thấy ni tơ tích lũy và tăng trọng của lợn giai đoạn nuôi vỗ béo khi cho ăn khẩu phần dựa trên chất dinh dưỡng tiêu hóa được cải thiện hơn so với axít amin tổng số. Khi so sánh giá trị tiêu hóa qua phân và hồi tràng, McDonald và ctv (1995) đã chứng minh là hệ số tiêu hóa dựa vào phân tích dưỡng trấp ở đoạn cuối hồi tràng cho phép đo chính xác ni tơ hấp thu hơn so với hệ số tiêu hóa qua phân. Ngoài ra tác giả còn cho thấy hệ số tương quan giữa tăng trọng và hệ số tiêu hóa hồi tràng cao hơn so với tiêu hóa toàn phần qua phân (tương ứng r = 0,76 và 0,64), đặc biệt đối với nguồn protein không truyền thống.

     

    Việc sử dụng AA tiêu hóa thay cho AA tổng số ngày càng trở nên cần thiết vì càng ngày chúng ta càng dùng các loại thức ăn không truyền thống với khả năng tiêu hóa thấp hơn thức ăn truyền thống (ví dụ bã sắn thay cho sắn lát, khô dầu đỗ tương thay thế bột cá, DDGS thay thế một phần khô dầu đỗ tương (Lemme et al.,2004). Việc lập khẩu phần thức ăn dựa trên AA tiêu hóa tạo ra khả năng đa dạng hóa khẩu phần và dùng nhiều nguyên liệu thức ăn không truyền thống mặc dù chúng chứa thành phần AA không cân đối và tỷ lệ tiêu hóa thấp hơn. Để giảm hàm lượng protein thô của khẩu phần và thỏa mãn nhu cầu AA chính xác hơn. Điều này sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng ni tơ, tích lũy protein cao hơn và có thể giảm lượng ni tơ đào thải ra phân.

     

    Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới đều khuyến cáo sử dụng  axít amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn để xây dựng khẩu phần cho lợn nhằm tối ưu hóa về nhu cầu dinh dưỡng và tối đa hóa lợi nhuận vì việc sử dụng SID AA  sẽ tiết kiệm nhiều AA hơn AID AA (giá trị SID cao hơn AID do đã đo đạc và tính toán đến AA nội sinh cơ bản)  mà nhu cầu dinh dưỡng vẫn được đảm bảo. Bên cạnh việc xây dựng khẩu phần dựa vào AA tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn thì sự tiến bộ của công nghệ hóa học và công nghệ sinh học đã cho ra đời nhiều AA tổng hợp. Lợi ích của việc dùng AA tổng hợp trong thức ăn chăn nuôi là thỏa mãn 1 cách chính xác nhu cầu AA để phát huy và cải thiện năng suất của dòng, giống.

     

    Sử dụng AA tổng hợp sẽ cho phép chyên gia dinh dưỡng thiết lập được khẩu phần thức ăn protein thấp nhưng cân bằng AA làm tiết kiệm nguồn protein, giảm giá thành thức ăn, giúp con vật tiết kiệm được cả nguồn năng lượng cho việc tiêu hóa thức ăn. Hiện nay, 4 AA tổng hợp đã được sản xuất và sử dụng đại trà là L-Lysine, DL- Methionine, L-Threonine và L-Tryptophan. Nhiều AA khác như Valine, isoleucine và Arginine đang và sẽ dần trở thành phổ biến (D’Mello, 2003). Phát triển việc nuôi dưỡng động vật giới tính và theo giai đoạn do nhu cầu AA của động vật giảm dần theo thời gian và điều này sẽ dẫn đến giảm chi phí thức ăn và giảm sự dư thừa protein và AA.

     

    3. CẢI THIỆN TỶ LỆ TIÊU HÓA ĐỂ GIẢM THẢI CHẤT DINH DƯỠNG RA PHÂN

     

    Trong điều kiện giá xăng dầu lên cao và thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu thức ăn trên thế giới, giá nguyên liệu thức ăn càng ngày càng tăng cao. Đối mặt với tình trạng này, các nhà dinh dưỡng có xu hướng đa dạng hóa công thức thức ăn, dùng nguyên liệu, phế phụ phẩm rẻ tiền hơn để thay thế cho nguyên liệu đắt tiền, ví dụ khô dầu cải thay khô đậu tương, tăng dùng cám mỳ, cám gạo thay thế cho ngô… Các loại nguyên liệu thay thế này thường có tỷ lệ xơ cao.

     

    Trong khi khả năng tiêu hóa xơ của lợn, gia cầm có hạn do men tiêu hóa nội sinh không đủ.  Ở gà thịt và gà đẻ, mặc dù được ăn thức ăn có giá trị dinh dưỡng thường được ưu tiên tốt hơn cho lợn và hiệu quả chuyển hóa thức ăn ở gia cầm rất cao, cao nhất trong các vật nuôi, nhưng chúng vẫn thải nhiều chất dinh dưỡng không tiêu hóa ra môi trường. Ví dụ, gà thịt công nghiệp mất khoảng 25-30% vật chất khô, 20-25% năng lượng tổng số, 30-50% ni tơ và 45-55% phốt pho ăn vào phải thải ra qua phân. Điều này muốn nói rằng còn rất nhiều cơ hội để cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn của động vật.

     

    Nguyên nhân của phần thức ăn không được chuyển hóa là do sự hiện diện của các chất không tiêu hóa của chất dinh dưỡng trong thức ăn (ví dụ xơ, phốt pho phytic) và các chất không mong muốn (như độc tố nấm mốc, vi sinh gây hại, chất kháng dinh dưỡng…). Để giải quyết bài toán này, các nghiên cứu trong tương lai phải nhận diện được các yếu tố cản trở việc tiêu hóa và sử dụng chất dinh dưỡng cũng như các phương pháp nâng cao hiêu quả sử dụng thức ăn.

     

    Bảng 2. Hàm lượng xơ Arabinoxylan tổng số ở một số loại thức ăn (Rafael Durán Giménez-Rico 2014)

    Tên nguyên liệu

    Arabinoxylan tổng số (%)

    Ngô

    3,9

    Lúa mỳ

    6,0

    Thóc

    8,5

    Lúa mạch

    7,4

    Cám mỳ tinh

    16,5

    Cám mỳ

    20,9

    DDGS Ngô

    12,7

    Khô đỗ tương

    3,8

    Khô dầu cải đắng/ngọt

    6,5

    Khô dầu hướng dương

    7,9

     

    Bảng 2 trình bày tỷ lệ Arabinoxylan tổng số, đại diện cho các thành phần xơ không tiêu hoặc khó tiêu hóa trong ruột non ở động vật dạ dày đơn.

     

    Lợn, gia cầm cho ăn khẩu phần thức ăn chứa nhiều Arabinoxylan sẽ phải đối mặt với:

     

    • Nhu cầu phải nhai lâu
    • Tăng mất mát nội sinh do tăng tiết nước bọt và dịch vị
    • Tăng kích thước và khối lượng đường ruột

     

    Những hoạt động trên đòi hỏi phải tăng năng lượng và protein cho duy trì đồng thời tăng lượng phân thải ra môi trường. Khi tỷ lệ xơ trong khẩu phần tăng cao, ngay cả đối với lợn choai và lợn vỗ béo, nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tiêu hóa các thành phần dinh dưỡng khác. Nghiên cứu của Noblet J. và J van Milgen 2004 khẳng định rằng xơ ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của lợn, tỷ lệ xơ trong thức ăn càng cao thì tỷ lệ tiêu hoá thức ăn càng giảm.

    Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của hàm lượng xơ trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn (Noblet J. và J van Milgen 2004)

     

    Việc bổ sung Enzyme Xylanasa và Beta-glucanasa vào thức ăn làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn bằng cách tác động vào các nguyên liệu thức ăn chứa nhiều xơ không tiêu. Kipper và ctv tổng hợp các kết quả của 50 bài báo nghiên cứu về men β-mannanase trên 25.000 heo và gà đi đến kết luận rằng khẩu phần bổ sung β-mannanase trong thức ăn của gà không cải thiện tăng trọng nhưng giảm được 1% hệ số chuyển hóa thức ăn và tăng tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất.

     

    Việc bổ sung β-mannanase trong thức ăn của lợn đã cải thiện 5% tăng trọng, giảm 6% hệ số chuyển hóa thức ăn và tăng tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất. Aaron J. Cowieson và Franz F. Roos 2014 báo cáo rằng kết quả nghiên cứu của 25 thí nghiệm cho thây việc bổ sung men Protease sẽ giúp cải thiện tỷ lệ tiêu hóa axít amin trung bình 4,5% nhưng với nguyên liệu tốt (ví dụ bột cá, khô nành) thì mức cải thiện chỉ là 2% còn nguyên liệu khác như khô dầu cọ, khô dầu cải thì cải thiện được tới 10%. Điều này có nghĩa là việc bổ sung men tiêu hóa vào nguyên liệu thức ăn có tỷ lệ tiêu hóa sẵn có (chưa bổ sung men) thấp dưới 70% sẽ cải thiện tỷ lệ tiêu hóa rất nhiều.

     

    Bảng 3. Ảnh hưởng của enzyme phân giải Carbohydrate lên tỷ lệ tiêu hóa ở lợn choai và lợn vỗ béo: % cải thiện tỷ lệ tiêu hóa (kết quả nghiên cứu của 11 thí nghiệm) (Rafael Durán Giménez-Rico 2014)

    Chỉ tiêu

    Tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng

    Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến

    Tỷ lệ tiêu hóa hồi tràng

    Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến

    Lô đối chứng (%)

    70,6

    83

    72,8

    82,9

    Lô đối chứng + men tiêu hóa

    74,4

    85,4

    76,8

    85,4

    Tỷ lệ cải thiện (%)

    5,4

    2,9

    5,5

    3,0

     

    4. TĂNG KHỐI LƯỢNG SƠ SINH CỦA LỢN CON ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI

     

    Các nhà chọn giống có xu hướng chọn lợn nái đẻ sai con ( Knauer and Hostetler, 2013). Tuy nhiên, khi nái càng đẻ sai con thì khối lượng sơ sinh càng giảm và số lợn nhỏ (< 1 kg) càng cao (Quiniou et al., 2002; Boulot et al., 2008; Bergstrom, 2011). Hơn nữa, số phôi nhiều sẽ có thể vượt khả năng của tử cung, sẽ gây ra sự kìm hãm phát triển trong tử cung (IUGR) (Foxcroft, 2012), dẫn đến giảm khả năng còn sống lúc sơ sinh (Wu et al., 2006). Lợn con thường bị chết nhiều trong 4 ngày đầu tiên do khả năng sống sót thấp, khả năng bú mẹ kém nên bị đói, hàm lượng glucose trong máu thấp, tích lũy mỡ và điều chỉnh nhiệt độ cơ thể kém (KilBride et al., 2014; Amdi et al., 2016; Vanden Hole et al., 2018). Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa khối lượng lợn sơ sinh và tỷ lệ chết của lợn con trước khi cai sữa. Nghiên cứu của Feldpausch JA. và ctv  2019 tại Mỹ và Tây Ban Nha trên 400 lứa đẻ thấy tỷ lệ chết trung bình  trong 3-4 tuần đầu là 12,2%. Lợn con có khối lượng sơ sinh càng nhỏ thì tỷ lệ chết càng cao.  Trong đó 15,2% lợn con có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn 1,11 kg có tỷ lệ chết là 34,4%.

    Biểu đồ 2: Sự phân bố khối lượng sơ sinh của lợn (lợn dưới 0,5 Kg và trên 2,3 kg được đưa vào nhóm 0,5 và 2,3 kg)

    Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh của lợn đến tỷ lệ chết của lợn con trước khi cai sữa

     

    Theo Alison và ctv 2017, khối lượng lợn con lúc sơ sinh càng nhỏ thì khối lượng lúc cai sữa 14-21 ngày càng nhỏ theo và dẫn đến khối lượng lúc 42 ngày sau cai sữa chênh lệch nhau rất lớn. Nếu lấy khối lượng trung bình của lợn con là 1,5 kg so với lợn nhỏ 1 kg thì chênh lệch khối lượng ở 42 ngày sau cai sữa lên đến 30%. Lợn càng lớn nhanh thì tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng càng nhỏ.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh lợn con đến sự phát triển giai đoạn sau (Alison và ctv 2017)

     

    Khối lượng sơ sinh (Kg)

    Khối lượng cai sữa (14-21 ngày) Kg

    Khối lượng 42 ngày sau cai sữa (kg)

    1

    0,86

    2,83

    13,16

    2

    1,03

    3,98

    16,28

    3

    1,19

    4,78

    18,05

    4

    1,35

    5,44

    19,67

    5

    1,51

    6,1

    21,07

    6

    1,67

    6,77

    22,53

    7

    1,82

    7,43

    23,45

    8

    1,97

    8,07

    24,17

    9

    2,24

    8,98

    25,28

     

    Nghiên cứu của Samuel và cộng tác viên 2020 chỉ ra rằng ảnh hưởng của khối lượng lợn lúc sơ sinh đến khả năng tăng trọng, khả năng ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn thay đổi theo giai đoạn tuổi nhưng theo cùng 1 quy luật là khối lượng sơ sinh cao hơn sẽ tăng khối lượng sau này hơn từ 3-10%, khả năng ăn vào cao hơn (5,7-9,9%) và hệ số chuyển hóa thức ăn cải thiện 1,1-3,5%.

     

    Bảng 5. Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh đến khả năng sinh trưởng của lợn (Samuel và ctv 2020)

     

     

    Khối lượng sơ sinh thấp (< 1 Kg)

    Khối lượng sơ sinh trung bình (1,3-1,7 Kg)

    So sánh (%)

    Tăng khối lượng GW (g/ngày)

       

    4-10 tuần (g/ngày)

    443

    488

    110,2

    10-17 tuần (g/ngày)

    921

    950

    103,1

    17-23 tuần (g/ngày)

    1.081

    1.187

    109,8

    Khả năng ăn vào

         

    4-10 tuần (g/ngày)

    626

    688

    109,9

    10-17 tuần (g/ngày)

    1.824

    1.928

    105,7

    17-23 tuần (g/ngày)

    2.840

    3.105

    109,3

    Hệ số chuyển hóa TĂ FCR

         

    4-10 tuần (g/ngày)

    1,38

    1,39

    100,7

    10-17 tuần (g/ngày)

    1,98

    2,05

    103,5

    17-23 tuần (g/ngày)

    2,65

    2,62

    98,9

     

    5. NUÔI TÁCH RIÊNG LỢN ĐỰC CÁI ĐỂ GIẢM LÃNG PHÍ THỨC ĂN

     

    Bảng 6. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn khác nhau lên lợn đực và cái (Pau Aymerich và ctv 2020)

    MỤC

     

    SID Lys:NE, g/Mcal2

     

     Giới tính

    2,64

    3,05

    3,46

    3,86

    4,27

    Tăng khối lượng

    Đực

    830

    918

    934

    934

    968

     (g/ngày)

    Cái

    823

    882

    857

    882

    885

     

    So sánh (%)

    101

    104

    109

    106

    109

    Hệ số chuyển

    Đực

    2,54

    2,41

    2,30

    2,23

    2,17

    hóa TĂ

    Cái

    2,55

    2,43

    2,46

    2,39

    2,36

     (FCR)

    So sánh (%)

           100

    99

    93

    93

    92

     

    Nghiên cứu cho lợn đực và cái ăn các khẩu phần thức ăn với mật độ dinh dưỡng khác nhau, Pau Aymerich và ctv 2020 chỉ ra rằng với cùng mật độ dinh dưỡng khác nhau thì lợn đực lớn nhanh hơn hẳn lợn cái từ 1-9% và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn từ 1 đến 99%. Trong hướng dẫn nuôi lợn của chính quyền bang Queensland – Úc 2013 khuyến cáo rằng việc nuôi tách riêng đực, cái sẽ tăng hiệu quả sử dụng thức ăn do thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng khác nhau của con đực và cái. Lợn đực và cái khác nhau về khả năng chuyển hóa thức ăn thành thịt nạc. Lợn cái đạt khả năng tích lũy thịt nạc ở khối lượng cơ thể thấp hơn lợn đực. Đặc biệt giai đoạn sau 50 Kg khả năng tích lũy protein chậm hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp hơn và tích lũy nhiều mỡ hơn nếu cùng ăn khẩu phần như lợn đực.

     

    Bảng 7.  Khuyến cáo nhu cầu dinh dưỡng của Ủy ban nghiên cứu dinh dưỡng Hoa kỳ  NRC 2012

     

    50-75 (Kg)

    75-100 (Kg) 

    100-135 (Kg) 

     Chỉ tiêu

    đực

    cái

     So sánh (%)

    đực

    cái

    So sánh (%)

    đực

    cái

    So sánh (%)

    NE (Kcal /kg)

    2.475

    2.475

     

    2.475

    2.475

     

    2.475

    2.475

     

    tăng trọng ngày(g)

    917

    866

     

    936

    897

     

    879

    853

     

    SID Amino acids(%)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Lysine

    0.81

    0.87

    107

    0.69

    0.77

    112

    0.58

    0.64

    110

    Methionine

    0.23

    0.25

    109

    0.20

    0.22

    110

    0.17

    0.18

    106

    Met + Cys

    0.46

    0.49

    107

    0.40

    0.44

    110

    0.34

    0.37

    109

    Threonine

    0.50

    0.53

    106

    0.44

    0.48

    109

    0.38

    0.42

    111

    Tryptophan

    0.14

    0.15

    107

    0.12

    0.13

    108

    0.1

    0.11

    110

    Arginine

    0.37

    0.40

    108

    0.32

    0.35

    109

    0.27

    0.29

    107

    Valine

    0.53

    0.57

    108

    0.46

    0.51

    111

    0.39

    0.43

    110

     

    Theo khuyến cáo của Ủy ban nghiên cứu dinh dưỡng Hoa kỳ  NRC 2012 cho lợn ở các giai đoạn 50-75 Kg; 75-100 Kg và 100- 135 kg thì nhu cầu axít amin của lơn cái luôn cao hơn lợn đực từ 6-11%. Francesc Molist 2021 khuyến cáo rằng với lợn đực từ 75 Kg thì nên cho ăn hạn chế 80% so với mức ăn tự do hoặc giảm mật độ năng lượng của khẩu phần, giảm axít amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn hay tăng hàm lượng xơ có thể lên men so với lợn cái. Bằng cách giảm mật độ dinh dưỡng của khẩu phần, dùng thêm nguyên liệu nhiều xơ, chúng ta có thể giảm giá thành thức ăn.

     

    6. NUÔI LỢN THỊT THEO NHIỀU GIAI ĐOẠN ĐỂ GIẢM LÃNG PHÍ THỨC ĂN

     

    Khi lợn càng lớn, khả năng ăn vào càng tăng và hệ số chuyển hóa thức ăn cũng càng tăng lên nghĩa là hiệu quả sử dụng thức ăn càng giảm xuống. Do tiêu thụ thức ăn ngày càng tăng nên việc giảm mật độ dinh dưỡng của 1 kg thức ăn càng có nhiều ý nghĩa về kinh tế.

     

    Bảng 8.   KHUYẾN CÁO NHU CẦU DINH DƯỠNG THEO GIAI ĐOẠN CỦA LỢN THỊT (NRC 2012)

     

    5-7 Kg

    7-11 Kg

    11-25 Kg

    25-50 KG

    50-75 Kg

    75-100 Kg

    100-135 Kg

    NE (Kcal/kg)

    2.448

    2.448

    2.412

    2.475

    2.475

    2.475

    2.475

    ME (Kcal/kg)

    3.400

    3.400

    3.350

    3.300

    3.300

    3.300

    3.300

    AA tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn

     

     

     

     

     

     

     

    Lysine

    1,5

    1,35

    1,23

    0,98

    0,85

    0,73

    0,61

    Methionine

    0,43

    0,39

    0,36

    0,28

    0,24

    0,21

    0,18

    Met + Cys

    0,82

    0,74

    0,68

    0,55

    0,48

    0,42

    0,36

    Threonine

    0,88

    0,79

    0,73

    0,59

    0,52

    0,46

    0,4

    Tryptophan

    0,25

    0,22

    0,2

    0,17

    0,15

    0,13

    0,11

    Arginine

    0,68

    0,61

    0,56

    0,45

    0,39

    0,33

    0,28

    Valine

    0,95

    0,86

    0,78

    0,64

    0,55

    0,48

    0,41

    AA Tổng số

     

     

     

     

     

     

     

    Lysine

    1,7

    1,53

    1,4

    1,12

    0,97

    0,84

    0,71

    Methionine

    0,49

    0,44

    0,4

    0,32

    0,28

    0,25

    0,21

    Met + Cys

    0,96

    0,87

    0,79

    0,65

    0,57

    0,5

    0,43

    Threonine

    1,05

    0,95

    0,87

    0,72

    0,64

    0,56

    0,49

    Tryptophan

    0,28

    0,25

    0,23

    0,19

    0,17

    0,15

    0,13

    Arginine

    0,75

    0,68

    0,62

    0,5

    0,44

    0,38

    0,32

    Valine

    1,1

    1

    0,91

    0,75

    0,65

    0,57

    0,49

     

    Bảng 8 cho thấy chăn nuôi tại Mỹ đã áp dụng khuyến cáo này hàng chục năm nay. Người ta chia thức ăn cho cả đời lợn thịt thành 7 giai đoạn. So với ở Việt nam, giai đoạn từ 7-25 kg, các công ty chỉ sử dụng một loại thức ăn trong khi ở Mỹ là 2. Giai đoạn từ 50-xuất chuồng (100-120 Kg) thì các công ty ở Việt nam chỉ sản xuất 1 loại thức ăn trong khi ở Mỹ chia thành 3 loại. Thậm chí có công ty ở VN lại đưa ra thị trường loại thức ăn cho lợn từ 30- xuất chuồng. Việc chia ít giai đoạn thức ăn như vậy thì thức ăn này nếu đủ nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con thì sẽ thừa dinh dưỡng cho lợn lớn và ngược lại nêu đủ dinh dưỡng cho lợn lớn sẽ không thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con dẫn đến chậm lớn và cả hai trường hợp đều gây lãng phí thức ăn.

     

    Bảng 9. MỘT SỐ ĐĂNG KÝ TIÊU CHUẨN SẢN XUẤT THỨC ĂN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

     Chát dinh dưỡng

    2.5-9 Kg

    9-20 Kg

    15-50 Kg

    20-50 Kg

    50-100 Kg

    30-100 Kg

    ME (Kcal/kg)

    3.400

    3.300

    3.100

    3.150

    3.000

    3.000

    CP

    19

    18,5

    17

    18

    15

    15,5

    Lysine

    1,35

    1,25

    0,78

    1,05

    0,8

    0,48

    Met + Cys

    0,7

    0,65

    0,52

    0,57

    0,45

    0,4

     

    III- KẾT LUẬN

     

    Như vậy trong điều kiện hiện nay, để giảm chi phí thức ăn, trước mắt nên tập trung vào giải quyết 6 vấn đề sau:

     

    1. Tiết kiệm nguồn năng lượng bằng cân bằng năng lượng thuần ne

    2. Tiết kiệm nguồn protein bằng khẩu phần ăn cân bằng acid amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn

    3. Cải thiện tỷ lệ tiêu hóa để giảm thải chất dinh dưỡng ra phân

    4. Tăng khối lượng sơ sinh của lợn con để nâng cao hiệu quả chăn nuôi

    5. Nuôi tách riêng lợn đực cái để giảm lãng phí thức ăn

    6. Nuôi lợn thịt theo nhiều giai đoạn để giảm lãng phí thức ăn

     

    Theo báo cáo của Cục chăn nuôi, sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp năm 2021 khoảng 21,5 triệu tấn trong đó thị phần của các công ty nước ngoài khoảng 60% và của các công ty trong nước khoảng 40%. Sự đóng góp của các nhà khoa học dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi Việt nam không nhỏ giúp các công ty chăn nuôi nội địa giữ được thị phần. Mặt khác, ai cũng biết rằng, chi phí con giống luôn chiếm khoảng 15-20% trong cơ cấu giá thành sản phẩm và thức ăn chiếm khoảng 60-75%. Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật làm năng suất con giống tăng, làm giảm chi phí về giống 10% thì sẽ giảm giá thành sản phẩm 1,5-2%. Mặt khác, nếu cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn 10% thì sẽ giảm giá thành sản phẩm 6,5-7% và nếu cải thiện hiệu quả sử dụng 3% thì cũng giảm được 1,8-2,2% giá thành sản phẩm giống như tăng năng suất con going 10% mà tăng lên 10% luôn khó hơn tăng lên 3%. Việc đầu tư thích đáng về trang thiết bị nghiên cứu cũng như chương trình nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi sẽ đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí thức ăn từ đó giảm giá thành sản xuất sản phẩm chăn nuôi. Để sử dụng có hiệu quả tiền đầu tư của nhà nước và nâng cao tính khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu thì Viện và các đơn vị cần có chiến lược xây dựng đội ngũ nhân sự thật mạnh và chính sách đãi ngộ nhà khoa học tốt cũng như kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc nghiên cứu trung thực.

     

    TS. Lã Văn Kính

     Trường Đại học Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Aaron J. Cowiesonand Franz F. Roos bioefficacy-of-a-monocomponent-protease-in-the-diets-of-pigs-and-poultry-a-metaanalysis-of-effect-on-ileal-amino-acid-digestibility. Journal-Of-Applied-Animal-Nutrition – Cambridge University Press. https://www.cambridge.org/core/journals/journal-of-applied-animal-nutrition/article/abs/bioefficacy-of-a-monocomponent-protease-in-the-diets-of-pigs-and-poultry-a-metaanalysis-of-effect-on-ileal-amino-acid-digestibility/E7C3DB9E2F4874F08D9A1385AA409336
    2. Alison L. Smith; Kenneth J. Stalder; Timo V. Serenius; Tom J. Baas; John W. Mabry
    1. Amdi C., Klarlund M. V., Hales J., Thymann T., and Hansen C. F.. 2016. Intrauterine growth-restricted piglets have similar gastric emptying rates but lower rectal temperatures and altered blood values when compared with normal-weight piglets at birth. J. Anim. Sci. 94:4583–4590. doi: 10.2527/jas.2016-0639
    1. Amerah AM, Gilbert C, Simmins PH, Ravindran V 2011. Influence of feed processing on the efficacy of exogenous enzymes in broiler diets. Wld’s Poult Sci J. 67:29-46.
    1. Bergstrom J. R. 2011. Effects of birth weight, finishing feeder design, and dietary astaxanthin and ractopamine HCl on the growth, carcass, and pork quality characteristics of pigs; and meta-analyses to improve the prediction of pork fat quality [PhD dissertation]. Manhattan (KS): Kansas State University. 
    2. Bergstrom J. R. 2011. Effects of birth weight, finishing feeder design, and dietary astaxanthin and ractopamine HCl on the growth, carcass, and pork quality characteristics of pigs; and meta-analyses to improve the prediction of pork fat quality [PhD dissertation]. Manhattan (KS): Kansas State University. 
    3. Boulot S., Quesnel H., and Quiniou N.. 2008. Management of high prolificacy in French herds: can we alleviate side effects on piglet survival? Adv. Pork Prod. 19:213–220. [Google Scholar]
    1. Cowieson AJ, Hruby M, Pierson EEM 2006. Evolving enzyme technology: impact on commercial poultry nutrition. Nutr Res Rev 11:91-114.
    2. D’Mello JPF (Editor) 2003 Amino Acids in Animal Nutrition. CABI Publishing, Wallingord, U.K.
    3. Effect of piglet birth weight on weights at weaning and 42 days post weaning. Journal of Swine Health and Production—2017 Volume 15, Number 4 (2013-2018)
    4. Feldpausch JA, Jourquin J, Bergstrom JR, Bargen JL, Bokenkroger CD, Davis DL, Gonzalez JM, Nelssen JL, Puls CL, Trout WE, Ritter MJ. Birth weight threshold for identifying piglets at risk for preweaning mortality. Translational Animal Science. 2019; 3(2): 633-640. doi: 10.1093/tas/txz076
    1. Foxcroft G. R. 2012. Reproduction in farm animals in an era of rapid genetic change: will genetic change outpace our knowledge of physiology? Reprod. Domest. Anim. 47(Suppl. 4 ):313–319. doi: 10.1111/j.1439-0531.2012.02091.
    1. Francesc Molist www.pigprogress.net/ health-nutrition/7-strategies-to-reduce-feed-costs/
    1. Furtado C. da S. D., Mellagi A. P. G., Cypriano C. R., Gaggini T. S., Bernardi M. L., Wentz L., and Bortolozzo F. P.. 2012. Influence of birth weight and of oral, umbilical or limb lesions on performance of suckling piglets. Acta Scientiae Veterinariae. 40:1077.
    1. Hans H. Stein Formulation using net energy in pigs. Presentation at conference of U.S. Soybean Export Council on 22 Oct 2020
    2. J Noblet1J van Milgen Energy value of pig feeds: effect of pig body weight and energy evaluation system. Journal of animal science. 2004;82 E-Suppl:E229-238.  doi: 10.2527/2004.8213_supplE229x
    1. Jourquin J., Morales J., and Bokenkroger C. D.. 2015. Pigs at risk: birth weight impact on survivability and days to market. International Pig Veterinary Society Belgium Regional Meeting. Poster 5. 
    2. Just A., H. Jorgensen, and JA. Fernandez. 1985. Correlations of protein deposited in growing female pigs to ileal and faecal digestible crude protein and amino acids. Livestock Production Science 12: 145–159.
    3. KilBride A. L., Mendl M., Statham P., Held S., Harris M., Marchant-Forde J. N., Booth H., and Green L. E.. 2014. Risks associated with preweaning mortality in 855 litters on 39 commercial outdoor pig farms in england. Prev. Vet. Med. 117:189–199. doi: 10.1016/j.prevetmed.2014.08.004
    1. Kipper, M.; Andretta, I.; Quadros, V. R.; Schroeder, B.; Pires, P. G. S.; Franceschina, C. S.; Hickmann, F. M. W. and França, I. 2020. Performance responses of broilers and pigs fed diets with β-mannanase. Revista Brasileira de Zootecnia 49:e20180177. https://doi.org/10.37496/rbz4920180177
    1. Knauer M. T. and Hostetler C. E.. 2013. US swine industry productivity analysis, 2005 to 2010. J. Swine Health Prod. 21:248–252. 
    2. Krahn G. T. 2015. Comparison of piglet birth weight classes, parity of the dam, number born alive and the relationship with litter variation and piglet survival until weaning [PhD dissertation]. Ames (IA): Iowa State University. 
    1. Lemme A, Ravindran V, Bryden WL 2004. Ileal digestibility of amino acids in feed ingredients for broilers. Wld’s Poult Sci J 60:421-435.
    1. McDonald, D.H., W. Edwards, R.H. Greenhalgh, and R. Morgan. 1995. Animal Nutrition 5th Edition. Pp 225-229.
    2. NRC 2012. Nutrient requirement of swine. National Research Council (U.S.)
    1. NRC 2012. Nutrient Requirements of Swine. Eleventh Revised Edition. National Academy Press, Washington, DC.
    2. Pau AymerichCarme Soldevila,Jordi BonetMercè Farré,Josep GasaJaume Coma and David Solà-Oriol Interrelationships between sex and dietary lysine on growth performance and carcass composition of finishing boars and gilts. Transl Anim Sci.2020 Jul; 4(3).  doi: 10.1093/tas/txaa129
    3. Queensland Government 2013. Feeding guidelines | Department of Agriculture and Fisheries, Queensland (daf.qld.gov.au)
    1. Quiniou N., Dagorn J., and Gaudré D.. 2002. Variation of piglets’ birth weight and consequences on subsequent performance. Livest. Prod. Sci. 78:63–70. doi: 10.1016/S0301-6226(02)00181-1
    2. Quiniou N., Dagorn J., and Gaudré D.. 2002. Variation of piglets’ birth weight and consequences on subsequent performance. Livest. Prod. Sci. 78:63–70. doi: 10.1016/S0301-6226(02)00181-1
    1. Rafael Durán Giménez-Rico review-of-the-use-of-enzymes-in-pig-nutrition. https://www.pig333.com/articles/review-of-the-use-of-enzymes-in-pig-nutrition_8347/
    2. Samuel JamesHawe; NigelScollan; RamonMuns; Elizabeth Magowan Impact of feeding low and average birthweight pigs on a weight basis post-weaning on growth performance and body composition; Livestock Science Volume 241, November 2020
    1. Vanden Hole C., Aerts P., Prims S., Ayuso M., Van Cruchten S., and Van Ginneken C.. 2018. Does intrauterine crowding affect locomotor development? A comparative study of motor performance, neuromotor maturation and gait variability among piglets that differ in birth weight and vitality. PLoS One. 13:e0195961. doi: 10.1371/journal.pone.0195961 
    2. Wu G., Bazer F. W., Wallace J. M., and Spencer T. E.. 2006. Board-invited review: intrauterine growth retardation: implications for the animal sciences. J. Anim. Sci. 84:2316–2337. doi: 10.2527/jas.2006-156
    3. Zeng Z. K., Urriola P. E., Dunkelberger J. R., Eggert J. M., Vogelzang R., Shurson G. C., and Johnston L. J.. 2018. Implications of piglet birth weight for survival rate, subsequent growth performance, and carcass characteristics of commercial pigs. J. Anim. Sci. 96(Suppl. 2):59–60. (Abstr.) doi: 10.1093/jas/sky073.111
    4. Zotti E., Resmini F. A., Schutz L. G., Volz N., Milani R. P., Bridi A. M., Alfieri A. A., and da Silva C. A.. 2017. Impact of piglet birthweight and sow parity on mortality rates, growth performance, and carcass traits in pigs. R. Bras. Zootec. 46:856–862. doi: 10.1590/s1806-92902017001100004

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.