• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 42.000 - 47.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 46.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Dương 46.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thái Nguyên, Nam Định từ 45.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quốc Oai 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 48.000 – 50.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Định 42.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lak 49.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Tĩnh 48.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 43.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tân Uyên (Bình Dương) 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Gia Kiệm (Đồng Nai) từ 51.000 – 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Trảng Bom (Đồng Nai), Trà Vinh 51.500 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long 51.000 đ/kg
    •  
  • Thời gian mang thai và tỉ lệ sống ở lợn con

    Một nghiên cứu của Mexico đã xác nhận rằng thời gian mang thai ngắn hơn có thể liên quan tới sự sống còn và trọng lượng khi sinh của lợn con.

    Thời gian mang thai và tỉ lệ sống ở lợn con

    Ảnh minh họa

     

    Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học từ trường Đại học Metropolitan Autonomous (UAM), Đại học Quốc gia Mexico (UNAM) và Đại học Tabasco Juárez Autonomous (UJAT); Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Animal Production Science.

     

    Mục đích của nghiên cứu là đánh giá hoạt động của tử cung lúc đẻ ở lợn nái mang thai với thời gian mang thai khác nhau và ảnh hưởng của trao đổi chất, khí máu và tăng trọng hàng ngày của lợn con sơ sinh. Thí nghiệm bao quát một khoảng thời gian 25 tuần và 200 lợn nái giống Yorkshire – Landrace.

     

    Trong báo cáo, các nhà khoa học đã chia lợn nái thành bốn nhóm 50 con và phân bổ theo thời gian mang thai:

     

    • Thời gian mang thai 1 (GL1): 107-109 ngày;
    • Thời gian mang thai 2 (GL2): 110-113 ngày;
    • Thời gian mang thai 3 (GL3): 114-116 ngày;
    • Thời gian mang thai 4 (GL4): 117-119 ngày.
     
    Các nhà nghiên cứu mô tả biện pháp ghi lại các chỉ số sinh sản của lợn nái, cũng như kết quả về tỉ lệ sống của lợn sơ sinh. Nhịp tim thai, cường độ và tần suất các cơn co thắt tử cung được theo dõi bằng cách sử dụng một thiết bị theo dõi thai Corometric (Corometrics Foetal Monitor). Các khí máu, điện giải và mức glucose của lợn sơ sinh được ghi lại bằng phương pháp của một khí máu và điện máy phân tích tự động.
     
    Các nhà khoa học cho biết rằng, các nhóm GL1 và GL2 có ca sinh kéo dài hơn không liên quan tới số lượng con của lứa đẻ. Trong bốn nhóm, GL1 có thời gian đẻ dài nhất, số lượng các cơn co thắt tử cung cao nhất, và tỉ lệ tử vong trong lúc đẻ và sau sinh cao nhất và thấp nhất, tương ứng.
     
    Lợn con sinh ra còn sống trong nhóm này có trọng lượng khi sinh thấp nhất và tỷ lệ cao nhất mắc phải hiện tượng tăng cacbondioxit trong máu, tăng lactate và tăng canxi trong máu, sau này dẫn đến tỷ lệ tăng trọng hàng ngày thấp hơn.
     
    Tóm lại, hiện tượng sinh sớm ở lợn nái làm tăng số lợn chết trong lúc đẻ và dẫn đến trọng lượng lợn sơ sinh thấp hơn, sự hiện diện của hiện tượng ngưng thở và những thay đổi về chuyển hóa nghiêm trọng ở lợn con.

     

     
    N.T.H. (The pigprogress)
     
    Nguồn: Bộ NN&PTNT

    Để lại comment của bạn

  •